Search the Community

Showing results for tags 'kiến thức chính trị'.



More search options

  • Search By Tags

    Type tags separated by commas.
  • Search By Author

Content Type


Forums

  • Thông Báo
    • Thông Báo
  • Tin Tức
    • Tin Việt Nam
    • Tin Quốc Tế
    • Người Việt Hải Ngoại
    • Bình Luận Thời Sự
    • Tin Khoa Học - Vi Tính - Môi Trường
    • Kinh Tế
    • Biển Đông
    • Thể Thao
    • Thế Giới Động Vật
  • Đời Sống Xã Hội & Tâm Linh
    • Sức Khỏe
    • Tâm Linh
    • Tử Vi & Phong Thủy
    • Quê Hương Ký Sự
  • Văn Hóa & Nghệ Thuật
    • Phụ Nử
    • Lịch Sử
    • lời hay ý đẹp
    • Vườn Thơ
    • Văn Hóa & Nghệ Thuật
  • Âm Nhạc
    • Thông Tin Âm Nhạc
    • Nhạc Online
    • Cải Lương - Tân Cổ
    • Quán Khuya
  • Giải Trí
    • Thư Giãn
    • Thông Tin Điện Ảnh
  • Hoàng Sa (VN) Lưu Trử - Storage
    • Lưu Trử - Storage

Calendars

  • Community Calendar

Categories

  • Items

Categories

  • Videos
    • Tin Việt Nam
    • RFA
    • Tin Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại
    • Bình Luận - Thời Sự
    • Sài Gòn TV Bên Kia Màn Khói
    • Điểm Tin Trong Tuần
    • Đọc Báo Vẹm
    • Âm Nhạc
    • Điện Ảnh
    • Khoa Học
    • VOA
  • Đời Sống
    • Tử Vi & Phong Thủy
    • Lịch Sử & Văn Hóa
    • Tìm Hiểu Tôn Giáo

Found 19 results

  1. Thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” (populism) đã được sử dụng rất lỏng lẻo trong thời gian gần đây. Chúng ta cần xác định rõ hơn. Hình minh họa Những năm gần đây đã trỗi dậy những hình thức mới của chủ nghĩa dân tộc dân túy (populist nationalism) mà ngày nay đã trở thành mối đe dọa chính đối với trật tự tự do quốc tế từng là nền tảng của hòa bình và thịnh vượng trên toàn cầu từ sau năm 1945. Chế độ dân chủ tự do đã liên tiếp bị các chế độ chuyên chế đe dọa trong suốt thế kỷ qua, ngoại trừ giai đoạn 1991-2008 khi quyền lực của Hoa Kỳ giữ vị trí gần như bá chủ. Ngày nay, một kiểu đe dọa khác đã nổi lên, các nền dân chủ ổn định đã tự thúc thủ trước các thế lực chính trị phi tự do được dẫn dắt bởi các niềm đam mê của người dân. Tuy vậy, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” [nghĩa đen: làm cho người dân say sưa] đã được sử dụng rất lỏng lẻo nhằm mô tả một loạt các hiện tượng không nhất thiết dung hợp được với nhau. Do đó, chúng ta cần vạch ra những ranh giới cho khái niệm này. Không có một sự đồng thuận chắc chắn nào giữa các nhà khoa học chính trị khi định nghĩa chủ nghĩa dân túy là gì, nhưng có ít nhất ba đặc điểm, mà theo quan niệm của tôi, có thể gắn liền với khái niệm này. Thứ nhất, đây là một chế độ chính trị theo đuổi những chính sách được dân chúng ủng hộ trong đoản kỳ nhưng không bền vững trong trường kỳ; thường là những chính sách xã hội. Có thể lấy ví dụ là những chính sách trợ giá hàng hóa, trả tiền hưu bổng hậu hĩ hoặc miễn phí chăm sóc y tế. Đặc điểm thứ hai có liên quan tới định nghĩa “nhân dân” làm căn bản cho tính chính danh của chế độ: nhiều chế độ dân túy không coi “nhân dân” là toàn bộ dân số mà thay vì vậy chỉ có một số nhóm sắc tộc hoặc chủng tộc được coi là nhân dân “thực thụ”. Ông thủ tướng Viktor Orban ở Hungary chẳng hạn, định nghĩa bản sắc dân tộc (national identity) của Hungary dựa trên người sắc tộc Hungary, loại trừ những người sinh sống ở Hungary nhưng không thuộc sắc tộc Hungary và bao gồm nhiều người Hungary sinh sống ở các quốc gia láng giềng như Slovakia hoặc Romania. Thủ tướng Narendra Modi của Ấn Độ cũng có nỗ lực tương tự khi cố gắng thay đổi định nghĩa bản sắc dân tộc Ấn Độ từ một bản sắc có nội dung tự do và bao hàm đã được Gandhi và Nehru thiết lập trước kia thành một bản sắc dựa trên Ấn Độ giáo. Đảng Luật pháp và Công lý Ba Lan thì nhấn mạnh vào các giá trị Ba Lan truyền thống và Thiên chúa giáo, kích thích sự trỗi dậy của các nhóm phân biệt chủng tộc công khai, chẳng hạn như nhóm kêu gọi một “châu Âu da trắng” hồi tháng 11-2017. Một định nghĩa thứ ba về chủ nghĩa dân túy có liên quan tới phong thái của nhà lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân túy có khuynh hướng phát triển chung quanh họ hiện tượng sùng bái cá nhân; tuyên bố họ được giao sứ mệnh nắm giữ quyền lực, không phụ thuộc vào các thiết chế như đảng phái chính trị. Họ cố gắng phát triển một mối quan hệ trực tiếp, không qua trung gian, với “nhân dân” mà họ tự xưng là người đại diện, hướng những niềm hy vọng và nỗi sợ hãi của người dân vào một hành động tức thời. Chủ nghĩa dân túy kiểu này thường đi đôi với việc lên án toàn bộ giới tinh hoa hiện tồn – những người đã đầu tư vào các thiết chế hiện hữu. Cách tiếp cận mang tính cá nhân đối với quyền lãnh đạo chính là cái đã làm cho những người dân túy trở thành mối đe dọa đối với các thiết chế dân chủ. Các nền dân chủ tự do hiện đại được xây dựng chung quanh sự chia sẻ quyền lực, trong đó tòa án, liên bang, lập pháp và truyền thông tự do giữ vai trò kiểm soát quyền lực hành pháp. Tất cả những thiết chế này đều có tiềm năng trở thành vật cản trở khả năng của nhà lãnh đạo dân túy đạt tới các mục tiêu của ông ta/bà ta; và do đó chúng trở thành những mục tiêu tấn công trực tiếp. Bản chất cá nhân của chủ nghĩa dân túy do vậy làm cho nó trở thành mối đe dọa đối với các thiết chế tự do. Ba định nghĩa nêu trên cho phép chúng ta phân biệt các phong trào khác nhau mà trong quá khứ đã từng được dán nhãn “chủ nghĩa dân túy”. Các lãnh đạo theo chủ nghĩa dân túy ở châu Mỹ Latin như Hugo Chavez ở Venezuela, Nestor và Cristina Kirchner ở Argentina nhấn mạnh vào các chương trình phúc lợi xã hội được dân chúng ủng hộ nhưng không bền vững; và cố gắng xây dựng sự sùng bái cá nhân chung quanh họ. Cặp đôi lãnh đạo Argentina vừa nói tự cho mình là hiện thân của một cặp đôi quyền lực theo chủ nghĩa dân túy cổ điển, Juan và Eva Peron. Nhưng mặt khác, họ không ủng hộ một định nghĩa hạn chế về bản sắc dân tộc. Cũng có thể nói như thế này về cựu thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra và em gái Yingluck của ông ta: họ khuyến khích các chương trình tái phân phối lợi tức cho những người Thái ở vùng nông thôn nghèo hơn nhưng không có cái nhìn hạn hẹp về bản sắc dân tộc Thái Lan như những đối thủ áo vàng của họ. Những người lãnh đạo phong trào Brexit [nước Anh ra khỏi Liên minh châu Âu, EU] trái lại, hoàn toàn không nhấn mạnh vào một chương trình kinh tế mở rộng nào, cũng không có một nhà lãnh đạo hiển nhiên nào. Nhưng họ kêu gọi hướng tới bản sắc dân tộc Anh truyền thống, khơi dậy nỗi sợ văn hóa chống lại người nhập cư, cũng như nỗi tức giận của người dân Anh về sự phân bổ sai lầm các lợi ích kinh tế. Ông Viktor Orban phù hợp với cả ba định nghĩa này: ông cố gắng bảo vệ những người gởi tiền tiết kiệm ở Hungary khỏi sự “cướp bóc” của các ngân hàng châu Âu; ông đưa ra một định nghĩa hạn hẹp về “nhân dân” và ông chắc chắn muốn được tôn sùng như một nhà lãnh đạo hiển nhiên. Chưa rõ liệu ông tổng thống Vladimir Putin của Nga có phù hợp với định nghĩa nào ngoài định nghĩa cuối cùng trong ba định nghĩa nói trên: ông ta rất cẩn trọng trong việc mở rộng các chương trình phúc lợi xã hội; trong khi ông nhấn mạnh vào bản sắc và truyền thống Nga thì truyền thống đó không nhất thiết bị bó hẹp trong những điều kiện về sắc tộc. Ông Putin chắc chắn đã xây dựng sự sùng bái cá nhân chung quanh ông ta, dù rất khó nói rằng ông ta là kẻ ngoại cuộc đang tìm cách lật đổ giới thượng lưu Nga sau khi ông ta đã thăng tiến lần lượt qua các tầng nấc của các tổ chức tình báo Liên xô KGB và FSB Nga. Cũng có thể nói như vậy về ông Narendra Modi, và ngay cả về ông Tập Cận Bình (Xi Jinping): cả hai nhà lãnh đạo này đều được ủng hộ nhờ tấn công vào giới thượng lưu hiện hữu, dù bản thân các ông này đều là thành phần của giới thượng lưu ấy. Cần chú ý rằng ông Donald Trump phù hợp với cả ba định nghĩa nói trên. Trong thời kỳ tranh cử, ông ta nhấn mạnh vào chủ nghĩa dân túy kinh tế, đòi rút Mỹ ra khỏi hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đe dọa xé bỏ hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) ngay sau khi nhậm chức. Ông hứa hẹn bảo vệ các chương trình phúc lợi quốc gia như Medicare [trợ cấp y tế cho người cao tuổi] và an sinh xã hội (Social Security) – dù từ ngày trở thành tổng thống, ông ta lại điều hành đất nước giống y một người đảng Cộng hòa bảo thủ truyền thống; ví dụ ông ta tìm cách cắt giảm phúc lợi xã hội bằng cách hủy bỏ Luật Chăm sóc sức khỏe vừa túi tiền (ACA) của tổng thống tiền nhiệm Obama. Và trong khi ông Trump chưa bao giờ công khai công nhận chủ nghĩa dân tộc da trắng, ông ta rất hài lòng tiếp nhận sự ủng hộ của những người theo chủ nghĩa ấy; ông còn đi ra khỏi lề lối khi từ chối lên án những kẻ theo tân phát xít (neo-Nazi) và những kẻ phân biệt chủng tộc công khai tại cuộc tuần hành của chúng ở thành phố Charlottesville. Ông ta có một mối quan hệ rất trắc trở với các cộng đồng Mỹ gốc Phi châu, Mỹ gốc Tây Ban Nha (Hispanic) và các nhóm dân tộc thiểu số khác; các ngôi sao thể thao và âm nhạc người da đen đã trở thành mục tiêu công kích thường xuyên của ông trên các dòng tin Twitter. Và ông cũng hành động như một lãnh tụ trời sinh cổ điển trong các cuộc tuần hành với những ủng hộ viên trung thành của ông; khi tiếp nhận lời đề cử của đảng Cộng hòa năm 2016, ông nói rằng, “chỉ có tôi mới hiểu được những vấn đề của các bạn”, và “chỉ có tôi mới sửa chữa được những vấn đề ấy”. Như vậy, trong hàng loạt các phong trào được coi là dân túy chủ nghĩa, chúng ta có thể khu biệt được ít nhất là hai tập hợp rộng. Ở châu Mỹ Latin và Nam Âu, các nhà dân túy có xu hướng đứng về cánh Tả, được sự ủng hộ của người nghèo và theo đuổi các chương trình xã hội có mục tiêu tái phân phối lợi ích nhằm tìm cách khắc phục tình trạng bất bình đẳng về kinh tế. Tuy vậy, họ không nhấn mạnh vào căn cước sắc tộc hoặc có lập trường chống nhập cư quyết liệt. Nhóm này bao gồm phong trào Boliviarian của ông Chavez ở Venezuela; Kircherismo ở Argentina cũng như các đảng chính trị Podemos của Tây Ban Nha và Syriza của Hy Lạp. Ở Bắc Âu, các nhà dân túy ít dựa vào tầng lớp lao động trung lưu đang suy thoái hơn là vào người nghèo; họ theo lập trường thiên về cánh Hữu, nhấn mạnh yếu tố sắc tộc và chống người nhập cư. Họ muốn bảo vệ các nhà nước phúc lợi hiện hữu nhưng không coi trọng việc mở rộng nhanh chóng các dịch vụ hoặc trợ cấp xã hội. Các nhóm trong tập hợp này bao gồm phong trào ủng hộ Brexit, Mặt trận Quốc gia ở Pháp, đảng Tự do ở Hà Lan, đảng Nhân dân của Đan Mạch, còn ở Hoa Kỳ là những người thuộc tầng lớp lao động ủng hộ nhiệt thành ông Donald Trump. Cũng có những nhóm và phong trào không thực sự phù hợp với tập hợp nào trong hai tập hợp kể trên. Cũng như mọi phong trào dân túy chủ nghĩa khác, phong trào Năm Sao ở Ý kiên quyết chống lại các thiết chế đã định hình và phản đối tầng lớp tinh hoa của Ý nói chung. Nhưng nó khác với các đồng sự ở cả Nam Âu và Bắc Âu ở chỗ nó dựa chủ yếu vào giai cấp trung lưu lớp giữa và lớp trên ở đô thị hơn là đặt nền tảng trên giai cấp lao động đang suy thoái. Francis Fukuyama Người dịch: Huỳnh Hoa Nguồn: https://www.the-american-interest.com/2017/11/28/what-is-populism/ (Viet-studies)
  2. Ngày nay, các tin tức về nước Mỹ luôn tràn ngập báo, đài, mạng khắp thế giới, tới mức dân chúng các nước biết về các ứng viên tranh cử Tổng thống Mỹ nhiều hơn biết về các nghị sĩ hoặc các nhà lãnh đạo của chính nước mình. Nhưng không dễ có được cái nhìn tổng quát về nước Mỹ, bởi lẽ đất nước này quá rộng lớn, nhất là quá đa dạng, đa nguyên, và sôi động, biến đổi, sáng tạo từng giờ từng phút. Để hiểu nước Mỹ thì không những chỉ đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, lướt mạng, mà cần đọc những cuốn sách do các nhà thông thái viết. Dường như người Pháp, chứ không phải người Mỹ, viết được những cuốn sách hay nhất về nước Mỹ. Hình minh họa Viết về nước Mỹ cách đây ngót hai thế kỷ Năm 1831, nhà sử học và nhà văn người Pháp Alexis de Tocqueville 26 tuổi cùng bạn là Gustave de Beaumont lên đường sang Mỹ làm một cuộc khảo sát dài hạn. Chính phủ Pháp giao cho hai người nhiệm vụ tìm hiểu chế độ nhà tù ở Mỹ, nhưng Tocqueville đã mở rộng phạm vi công việc, khảo sát toàn bộ hệ thống chính trị-xã hội nước Mỹ – quốc gia duy nhất trên thế giới chưa từng biết đến chế độ phong kiến và đang xây dựng nền dân chủ đầu tiên trên trái đất. Bắt đầu từ cảng Newport bang Rhode Island xứ New England miền đông Mỹ, hai ông đáp xe ngựa rong ruổi dọc ngang đất nước rộng mênh mông này ròng rã suốt 9 tháng trời. Kết quả chuyến đi ấy là sự ra đời cuốn sách dài hai tập “Nền dân chủ ở nước Mỹ” (De la Démocratie en Amérique, tiếng Anh Democracy in America. Bản tiếng Việt của nhà xuất bản Tri thức in năm 2014, Phạm Toàn dịch, hơn 800 trang, lấy tên là Nền Dân trị Mỹ, nghe nói vì để tránh từ “dân chủ” nhạy cảm) xuất bản năm 1840. Hơn 170 năm qua, sách này đã trở thành tác phẩm kinh điển trong kho tàng sách viết về xã hội học, là cuốn sách có ảnh hưởng chưa từng thấy đối với nước Mỹ; nó không những giúp thế giới hiểu rõ hơn về nước Mỹ mà lạ thay, nó còn tác động rất lớn tới cách nhìn của người Mỹ về chính tổ quốc họ, tới mức người Mỹ nói Tocqueville hiểu nước Mỹ hơn cả họ. Nền dân chủ ở nước Mỹ mang lại cho Tocqueville danh tiếng lẫy lừng. Bách khoa thư Mỹ American Spectrum Encyclopedia đánh giá sách này đã làm cho Tocqueville trở thành người dẫn đầu châu Âu cổ xúy cho dân chủ, một chế độ mới ra đời ở Mỹ mà ông tin là cuối cùng sẽ thay thế các chế độ quân chủ và chế độ quý tộc hồi ấy đang thống trị châu Âu. Điều đáng quý là triết gia-nhà quý tộc Tocqueville cũng nhìn thấy cả những mối nguy hại tiềm ẩn của dân chủ, ông cảnh báo cần chống lại “sự độc đoán của đa số”: việc phục tùng theo đa số sẽ có thể ngăn cản sự phát huy cá tính. Những phát kiến của Tocqueville còn nguyên giá trị cho tới ngày nay; nó chứng tỏ ông có một nhãn quan hết sức sáng suốt vượt qua sự hạn chế của tầng lớp quý tộc đặc quyền đặc lợi mà ông xuất thân. Trong lịch sử thế giới hiếm thấy một người trẻ thế mà đã viết được một cuốn sách “để đời” như vậy. Tocqueville quả là có trí tuệ hơn người. Sau cuộc cách mạng 1848, ông làm nghị sĩ và bộ trưởng ngoại giao trong nền Cộng hoà thứ II của nước Pháp (1848-1852). Năm 1856 ông xuất bản cuốn “Chế độ cũ và Cách mạng“, một tác phẩm lịch sử quan trọng. Năm 1859 Tocqueville mất quá sớm ở tuổi 54. Theo dấu chân Tocqueville 173 năm sau, một nhà quý tộc người Pháp khác lại lên đường sang khảo sát nước Mỹ theo hành trình Alexis de Tocqueville từng đi năm xưa, theo lời mời của Atlantic Monthly, một tạp chí Mỹ có uy tín, nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 200 năm ngày sinh Tocqueville (1805-2005). Đó là Bernard-Henri Lévy, dân Pháp ưa nói ngắn nên gọi ông là BHL. Lévy sinh ra trong một gia đình Do Thái. Hiện nay ông được coi là một triết gia siêu sao (superstar philosopher), nhà báo, nhà hoạt động xã hội, nhà làm phim; đẹp trai như Alain Delon, tiếng tăm lừng lẫy không kém Tổng thống Chirac. Thời báo New York viết Lévy là một nhà quý tộc Pháp kiểu mới, người sở hữu một cung điện ở Morocco và lấy vợ là một ngôi sao điện ảnh xinh đẹp. Nhiều tác phẩm của ông thuộc loại bestseller ở phương Tây, như Ai giết Daniel Pearl (Who Killed Daniel Pearl, 2002), Sự dã man mang bộ mặt con người (La barbarie à visage humain)… Lévy từng làm những bộ phim tài liệu nổi tiếng như Bosnia, Một ngày chết chóc tại Sarajevo, và là nhà đồng sáng lập Nhóm chống phân biệt chủng tộc SOS Racism. Ông cũng là đối tượng bị một số người công kích, cho là thực tài kém, chỉ giỏi đánh bóng hình ảnh trên truyền hình và báo chí. Truyền thông chính thống Trung Quốc không ưa Lévy. Atlantic Monthly sắp đặt chuyến đi và thuê người lái xe cho Lévy vì ông không biết lái xe(!). Chuyến đi này chịu ảnh hưởng bởi 3 sự kiện: chiến tranh Iraq, cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ và cơn bão Katrina. Lévy vượt qua hơn hai chục nghìn km trên đất Mỹ, đi ô tô là chính, đôi chỗ đáp máy bay. Ông xuất phát từ Newport, đi sang hướng Tây rồi ngoặt xuống phía Nam, sau đó đi sang Đông, cuối cùng lên phía Bắc trở về nơi xuất phát. Trong chuyến đi dài một năm ấy, Lévy lùng sục khắp các hang cùng ngõ hẻm của đất nước “hùng vĩ mà điên rồ” này. Cũng như Tocqueville, ông đến thăm các nhà tù ở nhiều nơi, như đảo Riker tại New York, gặp các tử tù và cảnh sát coi trại giam. Ông thăm các khu nhà “ổ chuột” ngoại ô, cộng đồng đạo Islam (Việt Nam gọi nhầm là đạo Hồi) người Mỹ ở Detroit, thị trấn của giáo phái Amish bang Iowa. Ông dự hội chợ súng tại Dallas, thăm New Orleans quê hương nhạc Jazz… cuối cùng trở về nơi khai sinh nước Mỹ – thành phố Provincetown ở mũi Cod, nơi năm 1620 chiếc thuyền buồm May Flower cặp bến đưa 120 tín đồ Thanh giáo đổ bộ lên đất Mỹ, những người được coi là cư dân đầu tiên dựng xây nên Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ vĩ đại sau này. Dọc đường Lévy tìm gặp và trò chuyện, phỏng vấn nhiều người từ dân thường tới chính khách. Ông phỏng vấn ngôi sao điện ảnh Sharon Stone trong toà nhà lộng lẫy của cô, hai thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Barack Obama và John Kerry, nguyên đệ nhất phu nhân Hillary Clinton và nhân vật tiêu biểu cho chủ nghĩa Tân Bảo thủ Richard Holbrooke. Ông hỏi chuyện từ cô gái bồi bàn cho tới ả gái điếm chuyên nghiệp. Ông phỏng vấn nhà văn Norman Mailer và học giả Francis Fukuyama, một người Mỹ gốc Nhật, tác giả cuốn “Hồi kết của lịch sử”. Ông tới thăm nhà chính trị học Samuel Huntington từng làm thế giới xôn xao với học thuyết “Sự đụng độ giữa các nền văn minh”… Tóm lại, ông tiếp xúc với đủ loại người trong xã hội Mỹ, qua đó phác thảo nên bức tranh về nước Mỹ ngày nay, đầy màu sắc, mang đủ tiếng nói của mọi thành phần xã hội, vì thế bức tranh của ông rất sinh động và hấp dẫn. Nước Mỹ làm người ta ngỡ ngàng Khác với Tocqueville, lần này Lévy vừa đi vừa viết (theo yêu cầu của Atlantic Monthly); sau khi kết thúc hành trình, các bài phóng sự đó tập hợp thành cuốn sách có tên “Ngỡ ngàng nước Mỹ: Đi thăm Mỹ theo dấu chân Tocqueville” (American Vertigo: Traveling America in the Footsteps of Tocqueville, sau đây viết tắt là American Vertigo). Bìa sách do nhà xuất bản Random House ấn hành năm 2006 vẫn dùng tên tiếng Anh như trên, dù sách viết bằng tiếng Pháp. American Vertigo là cuốn sách thứ 30 của Lévy và là cuốn đầu tiên ông xuất bản tại Mỹ trước khi xuất bản ở Pháp. Chuyến đi của Bernard-Henri Lévy nhằm khảo sát các vấn đề chính của nền dân chủ Mỹ, thí dụ, bản chất đặc thù của tinh thần yêu nước Mỹ, sự chung sống của tự do và tôn giáo trong xã hội (kể cả tôn giáo …bóng chày), chiến tranh chống khủng bố, chủ nghĩa Tân bảo thủ, vấn đề dân nhập cư bất hợp pháp, chế độ nhà tù và việc tư hữu hoá nhà tù, chế độ bảo hiểm y tế, quản lý súng đạn v.v… Ông rất băn khoăn khi thấy số người thu nhập thấp ở Mỹ chiếm tỷ lệ khá cao trong khi xã hội cực kỳ xa hoa. Lévy phát hiện tinh thần yêu nước của người Mỹ xuất phát từ nội tâm chứ không phải là hình thức. Ông thấy quốc kỳ Mỹ được treo ở khắp nơi, không những công sở mà nhiều nhà tư cũng treo quốc kỳ, khác hẳn châu Âu. Cờ Mỹ phấp phới bay tại cổng vào nhà chứa ông tới thăm, tượng Nữ thần Tự do đặt ở đầu giường của các cô gái điếm, tất cả đều rất trang trọng chẳng khác gì tại các trung tâm thương mại, học viện quân sự, chứng tỏ gái điếm cũng là những người yêu nước quan trọng. Lá quốc kỳ được đa số người Mỹ rất quý: không được làm bẩn, không được vứt dưới đất, không được treo chúc xuống; khi quá cũ không dùng được thì phải đốt đi chứ không được vứt vào sọt rác. Tượng trưng cho những gì người Mỹ giành được trong cuộc đấu tranh dựng nước của họ, lá quốc kỳ Mỹ luôn kiêu hãnh tung bay, như câu “Nơi đây lá cờ vẫn đứng vững” trong bài hát của Michael W. Smith cách đây hai trăm năm. Dĩ nhiên Lévy tập trung khảo sát vấn đề nghèo khổ và nhà tù – hai nỗi xấu hổ nhất của nước Mỹ. Ngoài 5 nhà tù ngày xưa Tocqueville từng đến, Lévy còn tới thăm trại giam tù nhân chiến tranh Afghanistan tại Guantanamo trên lãnh thổ Cuba. Ông phát hiện nước Mỹ coi nhà tù như trại cách ly của người mắc bệnh đậu mùa, như một kiểu bãi chôn rác, dường như nước Mỹ chỉ lo sao cách ly được thế giới của người bình thường với thế giới của phạm nhân nhằm bảo đảm an ninh cho xã hội. Ngược lại, châu Âu không những quan tâm tới mức độ tội trạng và sự trừng phạt tương ứng mà còn xem xét cơ hội hoàn lương cho phạm nhân được tha. Để khảo sát hệ thống y tế Mỹ, Lévy đã đến thăm bệnh viện Mayo (Mayo Clinic) ở thành phố Rochester bang Minnesota, nơi nhà văn nổi tiếng Hemingway từng hai lần đến chữa bệnh. Năm 1863 khi mới ra đời đây chỉ là một phòng khám tư nhân, ngày nay nó đã phát triển thành cả một hệ thống điều trị lâm sàng-giảng dạy-nghiên cứu y khoa lớn nhất nước Mỹ, trang bị tiên tiến nhất, tổng số nhân viên lên tới hàng chục nghìn người [năm 2016 là hơn 63 nghìn], trong đó có 1500 bác sĩ và nhà khoa học [2016 là hơn 3300]; hàng năm có hàng trăm nghìn bệnh nhân đến đây khám và điều trị [2016 là hơn 1,3 triệu người đến từ 137 nước]. Bệnh viện còn đặt nhiều cơ sở ở một số nơi khác. Mayo Clinic có truyền thống tự lực, rất ít xin chính quyền tài trợ, thế mà tình hình tài chính của họ lại rất khá, hàng năm doanh thu mấy tỷ USD [năm 2016 là 10,32 tỷ; tài sản bệnh viện gần 7 tỷ USD]. Các thày thuốc ở đây giữ được y đức nghiêm chỉnh, “Họ phục vụ bệnh nhân với mong muốn mạnh mẽ như nguyện vọng trau dồi kiến thức y học”. Trong tình hình dân chúng Mỹ phàn nàn về các thiếu sót của chế độ bảo hiểm y tế và một số bác sĩ do ngại bị kiện cáo chẩn đoán nhầm mà không tận tình phục vụ bệnh nhân, Lévy cho rằng Mayo Clinic là một kỳ tích của y tế nước Mỹ. Ông viết “Mayo Clinic và các thày thuốc của họ muôn năm! Triết lý tự lực và mục tiêu không kiếm lời của Mayo Clinic muôn năm!” Để tìm hiểu vấn đề tôn giáo ở Mỹ, Lévy đã tới thăm nhà thờ cộng đồng Ki Tô (community church) Willow Creek ở South Barrington bang Illinois, một nhà thờ độc đáo đón nhận tín đồ tất cả mọi giáo phái Ki Tô, vì thế mỗi tuần nơi đây có 17,5 nghìn người đến làm lễ; chưa kể nhà thờ này còn có hơn chục nghìn nhà thờ phụ thuộc rải rác nơi khác trên khắp nước Mỹ. Ông cũng tới thăm thư viện lịch sử gia đình do một nhà thờ đạo Mormon sáng lập; tại đây có bộ sưu tập mọi thứ giấy tờ liên quan tới đời sống gia đình mấy thế kỷ qua của khắp thế giới, như giấy chứng hôn, khai sinh, khai tử. Lévy thừa nhận, tại nước Mỹ “Bí quyết sức mạnh của tôn giáo là nó thoát ra khỏi cảm giác xa cách, cảm giác siêu việt của trung tâm thần học châu Âu” – ông nói và kết luận: tôn giáo không làm Mỹ trở thành một nước cuồng nhiệt, “Ở Mỹ, tôn giáo không phải là mồ chôn nền dân chủ mà là cái nôi của dân chủ.” Lévy sang thăm Mỹ trong tình hình đa số người Pháp đang có tâm lý không ưa Mỹ, chính phủ của Tổng thống Chirac tỏ thái độ chống cuộc chiến tranh Iraq, báo Pháp hay vạch ra các tệ nạn của xã hội Mỹ. Bản thân Lévy cũng chống chiến tranh Iraq. Tuy thế trong American Vertigo, ông vẫn nhìn nước Mỹ với con mắt khách quan, thậm chí còn uốn nắn một số thành kiến của người Pháp. Chẳng hạn về nạn béo phì ở Mỹ mà báo chí châu Âu thổi phồng, ông viết: đi tới đâu tôi cũng giương mắt tìm kiếm hình ảnh những nhóm người Mỹ béo phì đăng trên báo chí châu Âu …nhưng tôi thấy số người béo ở đây không hề nhiều hơn ở Pháp. Lévy cũng băn khoăn về một số vấn đề của nước Mỹ, chẳng hạn ông suy nghĩ nhiều về chủ nghĩa Tân bảo thủ nổi lên sau vụ 11 tháng 9 và đang ảnh hưởng rất mạnh tới đường lối đối ngoại của chính quyền Bush. Ông thắc mắc nhiều về vấn đề tại sao người Mỹ biết thừa là Tổng thống Bush rõ ràng đã nói dối trên vấn đề vũ khí hủy diệt của Iraq thế mà giới truyền thông và trí thức Mỹ lại lờ đi không nói gì, trong khi trước đây Tổng thống Nixon vì vụ Wategate mà mất chức, Tổng thống Clinton chỉ vì nói dối trong vụ Lewinsky mà suýt bị phế truất. Là một người phái tả Pháp, Lévy thất vọng với phái tả Mỹ, với đảng Dân chủ Mỹ, cho là họ chưa đề ra được một cương lĩnh gì mới. Trong khi kể lại nhiều tấm gương công dân Mỹ tự nguyện hăng hái cứu giúp nạn nhân cơn bão Katrina – chẳng hạn một cảnh sát hưu trí bỏ tiền túi thuê hai máy bay lên thẳng đi cứu những nạn nhân đang mỏi mắt chờ trên mái nhà – Lévy thắc mắc về vai trò mờ nhạt của chính quyền Mỹ trong việc cứu trợ này; phải chăng đó là hậu quả của chủ trương “Chính phủ nhỏ, xã hội lớn” mà chính quyền Mỹ theo đuổi. Nếu 170 năm trước Tocqueville lo ngại về sự chuyên quyền của đa số thì nay Lévy bổ sung thêm một nỗi lo cho nước Mỹ: các cộng đồng da màu vốn là thiểu số đang ngày một đông lên (vì đẻ khoẻ) khiến vai trò của người da trắng ngày một giảm đi; rồi đây đường lối chính trị nhấn mạnh chủ nghĩa tinh anh của người da trắng theo đạo Tin Lành tồn tại hai trăm năm qua sẽ tiếp tục ra sao. Ông cũng phát hiện người Mỹ ngày nay băn khoăn trăn trở nhiều về nền văn hoá của mình chứ không tràn đầy tự tin và cảm giác trách nhiệm như thời Tocqueville. Do Lévy là người Pháp nên đôi chỗ cuốn sách vẫn thể hiện tâm lý chuộng châu Âu, và đây chính là chỗ American Vertigo bị một số báo Mỹ phê phán. Tờ San Francisco Chronicle viết “Lại có một ông Tocqueville xét nét nền dân chủ của chúng ta.” Báo The Christian Sciences Monitor viết: Lévy hay nêu ra những vấn đề hết sức ngây ngô về nước Mỹ, do đó ông có nhiều kết luận ấu trĩ. Trong khi đó tạp chí Mỹ Vanity Fair đánh giá Lévy là “Siêu nhân và nhà Tiên tri: nước Mỹ chúng ta chưa có một người tương đương như ông.” (Superman and prophet: we have no equivalent in the United States). Dĩ nhiên tập phóng sự American Vertigo khác với sách Nền dân chủ ở Mỹ của Tocqueville, một tác phẩm viết sau chuyến khảo sát, có tính chất tổng kết và nặng triết lý. Nhìn chung American Vertigo thể hiện được con mắt sắc bén và sự phán đoán có lý trí của tác giả. Qua cuốn sách, người đọc thấy hiện lên một nước Mỹ sinh động, có nền văn hoá đa nguyên phong phú mà tác giả khâm phục. Cuối cùng, Bernard-Henri Lévy kết luận: nước Mỹ đang thay đổi, nhưng nước Mỹ sẽ bền vững lâu dài; “Tôi không nghĩ là có lý do làm cho đất nước này hết hy vọng.” Hồ Anh Hải (Nghiên cứu Quốc tế)
  3. Hôm thứ Tư (22/11), Phó Tổng thống Emmerson Mnangagwa, người bị ông Mugabe sa thải, đã trở về Zimbabwe và dự kiến sẽ chính thức được bổ nhiệm vai trò Tổng thống vào thứ Sáu (24/11). Những người ủng hộ ông Mnangagwa đang rất kỳ vọng vị cựu tướng lĩnh quân đội sẽ đem lại làn gió mới cho Zimbabwe, giúp đất nước này thịnh vượng trở lại. Nhưng cũng không ít người hoài nghi, nhân vật có biệt danh “cá sấu” sẽ không khác gì nhà độc tài Robert Mugabe. Ông Mnangagwa là đồng minh thân cận nhất, cánh tay phải của ông Mugabe trong suốt gần 40 năm qua. Ngay sau khi từ Nam Phi trở về nước hôm thứ Tư (22/11), ông Emmerson Mnangagwa đã có bài phát biểu dài 20 phút trước đông đảo người ủng hộ tập trung bên ngoài trụ sở Đảng ZANU-PF cầm quyền. Vị Tổng thống tương lai đã hứa hẹn sẽ đem lại nhiều việc làm cho người dân Zimbabwe trong một “nền dân chủ mới”. “Chúng tôi muốn phát triển nền kinh tế, chúng tôi muốn hòa bình, chúng tôi muốn việc làm, việc làm, việc làm”, ông Mnangagwa phát biểu trong sự phấn khích của đám đông vây quanh. Cải cách kinh tế theo mô hình Trung Quốc? Cũng giống như cựu Tổng thống Mugabe, ông Mnangagwa cũng là một nhân vật chính trị thân Trung Quốc. Ngay cả khi ông Mugabe có xu hướng xa lánh Bắc Kinh từ năm 2015, Phó Tổng thống Mnangagwa vẫn công khai ủng hộ các chính sách có lợi cho Trung Quốc. Vào năm 2015, để khắc phục tình trạng siêu lạm phát, ông Mnangagwa đã đề xuất sử dụng thêm đồng Nhân Dân Tệ Trung Quốc như một phương tiện trao đổi chính. Ông Mnangagwa cũng là người phản đối mạnh mẽ nhất việc Tổng thống Mugabe áp dụng “luật bản địa hóa” – quy định các công ty có vốn đầu tư nước ngoài phải để người bản địa da đen chiếm giữ 51% cổ phần, khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Zimbabwe, đặc biệt là từ Trung Quốc, giảm dần. Trong một phát biểu với Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc CCTV tại chuyến thăm Bắc Kinh 2015, ông Mnangagwa đã nói rằng ông mong muốn “một môi trường kinh doanh mà các nhà đầu tư sẵn lòng bỏ tiền ra vì họ sẽ có thể thu được lợi nhuận”. Các chuyên gia nghiên cứu cố vấn cho Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình mới đây đã đánh giá rằng ông Mnangagwa có tư tưởng cởi mở với các nhà đầu tư Trung Quốc hơn ông Mugabe. Ông Shen Xiaolei, một chuyên gia về Châu Phi tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (CASS) cho hay: “Ông Mnangagwa có cách tiếp cận cởi mở và ôn hòa trong các chính sách kinh tế và cũng là một người bạn của Trung Quốc”. “Ông Mnangagwa sẽ giới hạn hoặc thậm chí là xóa bỏ luật bản địa”, ông Wang Hongyi – chuyên gia về mối quan hệ Trung Quốc – Châu Phi tại CASS có cái nhìn tích cực về chính sách điều hành đất nước tới đây của ông Mnangagwa. Tờ Independent năm 2016 thông tin rằng Tổng thống Mugabe đã rất tức giận khi Phó Tổng thống Mnangagwa trong chuyến thăm Bắc Kinh năm 2015 đã có nhiều cuộc họp với các quan chức cao cấp Trung Quốc và chấp nhận những đề xuất cải cách kinh tế Zimbabwe theo định hướng và mô hình của Bắc Kinh dưới thời cựu Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình. Thực tế, ông Mnangagwa chính là người do chính quyền cộng sản Trung Quốc đào tạo từ những năm 1960. Tờ VOA cho hay vào năm 1963, một thời gian ngắn sau khi Đảng ZANU-PF được thành lập, ông Mnangagwa là một trong số những lãnh đạo trẻ đầu tiên của đảng này được gửi sang Trung Quốc huấn luyện về quân sự. Trong các thông tin ngoại giao chính thức, ông Mnangagwa tới thăm Trung Quốc vào năm 2001 với vai trò Chủ tịch Quốc hội và năm 2015 ở vị trí Phó Tổng thống. Hồ sơ đen về trấn áp dân chủ, nhân quyền? Trong gần 40 năm dưới trướng nhà độc tài Robert Mugabe, ông Mnangagwa kinh qua rất nhiều các chức vụ khác nhau từ Bộ trưởng An ninh Quốc gia, Bộ trưởng Tư pháp & Các vấn đề Bán quân sự, Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Quốc phòng, tới Phó Tổng thống. Tựu chung lại ông Mnangagwa chính là đồng minh thân cận nhất, cách tay phải của Thủ tướng, Tổng thống Mugabe. Ngoài các ý tưởng về cải cách kinh tế, vị sĩ quan có biệt danh “cá sấu” còn nổi tiếng là bàn tay sắt trong trấn áp dân chủ và nhân quyền. Từ đầu năm 1983 tới cuối năm 1984, ông Mnangagwa đã chỉ đạo quân đội Zimbabwe thẳng tay thực hiện chiến dịch Gukurahundi, thảm sát nhiều người thiểu số Ndebele, theo VOA. Vào năm 2008, ông Mnangagwa có công chính trong việc giúp Tổng thống Mugabe tái cử. Khi đó, lãnh đạo đối lập Morgan Tsvangirai đã giành chiến thắng trong vòng bầu cử thứ nhất. Nhưng sau đó, ông Mnangagwa đã chỉ huy lực lượng an ninh và quân đội trấn áp lực lượng đối lập, giết hại hàng trăm người ủng hộ ông Tsvangirai. Cuối cùng lãnh đạo đối lập đã phải rút lui khỏi vòng bầu cử thứ hai, mở đường cho ông Mugabe tái đắc cử và sau đó ông Mnangagwa được bổ nhiệm vai trò Bộ trưởng Quốc phòng. Mời xem video: 5 Ủy viên Bộ Chính trị nằm trong tầm ngắm của Ủy ban Kiểm tra TW sẽ bị xử lý gồm những ai? Tương lai chính trị của Zimbabwe Với những gì ông Mnangagwa thể hiện trong những năm tham gia chính trường Zimbabwe từ chàng thanh niên du kích tới vị Phó Tổng thống ngoài 70 tuổi, có thể thấy đây là nhân vật rất thủ đoạn chính trị và tham vọng quyền lực. Ông đã đúc rút được các kinh nghiệm xương máu của người tiền nhiệm Mugabe trong tất cả các chính sách từ kinh tế tới an ninh và đối ngoại. Tương lai gần của Zimbabwe dưới thời Mnangagwa có thể sẽ có khởi sắc về kinh tế với chính sách mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc. Nhưng về chính trị, Đảng ZANU-PF vẫn sẽ giữ vai trò độc tôn trong các quyết sách điều hành đất nước, phe đối lập sẽ tiếp tục yếu thế giống như dưới thời Mugabe. Thậm chí có ít khả năng ông Mnangagwa không tìm cách tiến đến một vị trí độc tài giống như người tiền nhiệm Robert Mugabe. Tân Bình (Tri thức VN)
  4. Sau khi Đại hội đảng Cộng sản lần thứ 19 kết thúc vào cuối tháng 10/2017, Xi Jinping (Tập Cận Bình) tiếp tục giữ vững vị trí lãnh đạo tối cao tại Trung Quốc, và cam kết sẽ dẫn dắt nước này đến vị trí dẫn đầu thế giới. Nhưng nếu thật sự chờ mong Chủ tịch Xi Jinping dẫn dắt Trung Quốc cùng tất cả chúng ta đi đến một tương lai tốt đẹp hơn, thì đó là một ước muốn vô cùng sai lầm. Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Xi Jinping gặp mặt ngày 9/11/2017. Ảnh: REUTERS/Damir Sagolj. Không chỉ là “người hùng” đối với người dân bình thường, mà ngay cả tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump cũng ưu ái gọi Xi Jinping – theo như báo Washington Post từng đưa tin – là “nhà lãnh đạo hùng mạnh nhất” của Trung Quốc trong một thế kỷ qua. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên quá ngạc nhiên vì điều này, bởi các tổng thống Mỹ vốn có thói quen miêu tả những nhà lãnh đạo Trung Quốc bằng những từ ngữ mang đầy tính ngưỡng mộ và thán phục. Đã từng có một Richard Nixon nịnh hót Mao Zedong (Mao Trạch Đông) là những các bài viết của Chủ tịch Mao đã “thay đổi thế giới”. Đối với Jimmy Carter, chỉ có những từ ngữ tâng bốc như “thông minh, cứng rắn, lanh lợi, thẳng thắng, dũng cảm, khả ái, tự tin, và thân thiện” mới đủ để diễn tả Deng Xiaoping (Đặng Tiểu Bình). Còn Bill Clinton thì miêu tả Jiang Zemin (Giang Trạch Dân) là một người “có tầm nhìn” và “trí thông tuệ vượt bực”. Trump có thể hoàn toàn đúng với nhận định của ông về Xi. Và nếu như không bị xem là hành vi tự tìm đường chết cho sự nghiệp chính trị của một tổng thống, Trump chắc sẽ còn thêm một câu: “Xi Jinping là vị lãnh đạo hùng mạnh nhất thế giới”. Đúng vậy, tuy nền kinh tế của quốc gia này vẫn xếp hạng hai sau Mỹ, và dù đã thúc đẩy phát triển quốc phòng, lực lượng quân đội của Trung Quốc vẫn không thể so sánh được với Hoa Kỳ. Thế nhưng, một nền kinh tế mạnh mẽ và một lực lượng quân sự hùng cường không phải là tất cả. Nhà lãnh đạo của “thế giới tự do” hiện nay đang đi trên một con đường hẹp, đầy tính chất giao dịch trong phương thức đối xử với chính phủ các nước khác, và cũng chẳng thể thực thi các nghị trình chính sách của mình tại quốc nội. Hoa Kỳ vẫn là quốc gia hùng mạnh nhất, nhưng chưa bao giờ vị lãnh đạo số một của nó lại ngày một trở nên yếu đuối trong việc quản trị đất nước, cũng như càng lúc càng khó làm ra tác động đến cộng đồng quốc tế cho bằng lúc này. Bởi chính ông ấy là người đã tỏ vẻ khinh thị các giá trị của Mỹ, và cả những đồng minh trụ cột đã giúp thiết lập ảnh hưởng quốc tế của Hoa Kỳ. Trong khi đó, ngược lại “vị lãnh đạo chính thể chuyên chế lớn nhất thế giới” thì có thể ngang nhiên dạo khắp năm châu. Xi nắm vững quyền lực lãnh đạo tối cao tại Trung Quốc còn mạnh mẽ hơn cả Mao. Trong khi thời đại Mao trị vì, Trung Quốc đắm chìm trong đói khổ và loạn lạc. Nhưng Xi Jinping đã khiến đất nước này trở thành động cơ chủ lực cho sức phát triển kinh tế toàn cầu. Cả thế giới rồi sẽ nhanh chóng được chiêm ngưỡng quyền lực của Xi. Đại hội đảng Cộng sản trong tháng 10/2017 vừa qua là lần đầu tiên do Xi chủ trì. Có khoảng 2.300 đại biểu đã tung hô thành tựu vĩ đại của ông ta, trong khi những kẻ đứng ngoài quan sát thì ôm nặng hoài nghi về tương lai của thế giới. Không một ai có thể tiên đoán được Xi sẽ sử dụng quyền lực tối thượng của mình để phục vụ cho cái Thiện hay cái Ác. Thế giới, hãy cố chú ý và ghi nhớ. Trong tất cả những chuyến công du, Xi luôn tỏ vẻ mình là một tín đồ của hòa bình và hữu nghị, là tiếng nói của lý lẽ trong một cõi nhân sinh hỗn độn và rối ren. Và khi để bên cạnh tất cả những sai lầm của Tổng thống Trump, thì hình ảnh của Xi ngày càng được xem trọng. Vào tháng 1/2017 ở Davos, Xi hứa hẹn giới tinh hoa thế giới rằng mình sẽ tiếp tục là một kẻ cổ xúy cho toàn cầu hóa, tự do thương mại, và Hiệp nghị Paris về biến đổi khí hậu. Những người tham gia buổi nói chuyện đã hết sức vui mừng và thư thái khi nghe được điều này. Họ cho rằng, ít nhất có một vị nguyên thủ quốc gia hàng đầu thế giới đã sẵn sàng chọn lựa đứng về phía lẽ phải, kể cả khi tổng thống Trump không chịu làm điều đó. Lời lẽ của Xi Jinping được quốc tế chú ý, một phần là vì ông ta đang nắm giữ lượng dự trữ đầu tư ngoại tệ lớn nhất. Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (Belt and Road Initiative) của Xi, tuy mang một cái tên hơi khó hiểu, nhưng thông điệp của nó thì rất rõ ràng. Hàng trăm tỷ đô la đã được Trung Quốc đầu tư ở nước ngoài để xây các hệ thống tàu hỏa, hải cảng, trạm năng lượng, và hàng loạt các loại cơ sở hạ tầng khác nhằmg giúp cho những vùng rộng lớn của thế giới được sung túc. Đó là phương pháp lãnh đạo thế giới mà Hoa Kỳ đã chẳng thể tiếp tục từ những ngày sau cuộc thế chiến ở phía Tây Châu Âu trong Kế hoạch Marshall (Marshall Plan) – vốn được cho là có quy mô nhỏ hơn. Xi Jinping cũng tiến hành mở rộng thế lực quân đội Trung Quốc ở các quốc gia khác, theo một cách mà trước nay người ta chưa từng thấy qua. Chỉ tính riêng năm nay, Xi đã bắt đầu thiết lập căn cứ quân đội đầu tiên ở nước ngoài ở Djibouti. Hải quân Trung Quốc cũng được Xi điều đi khảo sát ở các vùng xa hơn trước kia, trong đó có lần họ đã chạm đến “cửa” của khối NATO tại vùng Biển Baltic bên cạnh chiến hạm của Nga. Trung Quốc luôn miệng hứa hẹn họ sẽ không xâm lược các quốc gia khác để bắt bất kỳ ai phải thuận theo ý nguyện của mình (có lẽ Đài Loan không nằm trong số này vì Trung Quốc không xem Đài Loan là một quốc gia). Và do đó, đối với Trung Quốc, nỗ lực xây dựng các căn cứ là để gìn giữ hòa bình, chống lại bọn hải tặc, và giúp đỡ các đoàn cứu trợ từ thiện mà thôi. Còn các đảo nhân tạo với các đường bay quân sự ngoài Biển Đông ư, đó hoàn toàn là vì lý do tự vệ. Không như Tổng thống Nga Vladmir Putin, (ND: đối với một số nước) Chủ tịch Xi không mang dáng vẻ của một tên hay gây sự trên chính trường quốc tế, hay là một kẻ nhăm nhăm muốn lật đổ nền dân chủ Tây phương để họ phải lâm vào hoàn cảnh bất ổn. Tuy nhiên, Xi lại tỏ vẻ quá bao dung đối với tay đồng minh hàng xóm, Bắc Hàn, một kẻ chuyên kiếm chuyện bằng cách lăm le vũ khí hạt nhân. Và một số thái độ quân sự của Trung Quốc khiến cho các nước láng giềng khác rất quan ngại, không chỉ là các nước Đông Nam Á, mà còn có cả Ấn Độ và Nhật Bản. Xét về đối nội, các bản năng trong Xi cũng kém tự do hệt như vị đang lãnh đạo nước Nga. Xi tin rằng, chỉ cần thả lỏng một chút về mặt chính trị thì không chỉ sự nghiệp của riêng ông ta, mà là còn của cả một chế độ sẽ bị huỷ hoại. Số phận của Liên bang Xô Viết ám ảnh Xi Jinping, và chút lòng tự ti đó đã mang lại những hậu quả của riêng nó. Xi không những không tin tưởng gì vào những kẻ thù đã bị ông ta tống ra khỏi hệ thống quyền lực, mà còn cả đối với cái giai cấp trung lưu ngày một đông – những kẻ mà tay lúc nào cũng cầm các chiếc điện thoại tân thời – cũng như các mầm non xã hội dân sự đã bắt đầu nảy nở ở khắp nơi khi ông ta bắt đầu nắm quyền. Xi tỏ vẻ rất kiên quyết về việc phải thắt chặt toàn bộ xã hội Trung Quốc, đặc biệt bằng việc mở rộng mạng lưới theo dõi đầy quyền lực của nhà nước, cũng như quyền chỉ huy tối cao đối với nền kinh tế vẫn toàn bộ nằm trong tay đảng Cộng sản. Tất cả những điều này có thể sẽ khiến Trung Quốc không thể phát triển về kinh tế tới mức tột đỉnh, và khiến cho môi trường sống của người dân ngột ngạt hơn. Các sai phạm về quyền con người cũng ngày càng tồi tệ hơn dưới thời Xi, nhưng đổi lại, khó khăn lắm chúng ta mới nghe được một lời than phiền ậm ừ từ phía các vị lãnh đạo thế giới. Phe tự do từng than khóc về “mười năm bị đánh mất” để thực hiện cải cách dưới thời Hu Jintao (Hồ Cẩm Đào), người tiền nhiệm của Xi. 10 năm đó rất có thể đã trở thành 15 hoặc là hơn 20 năm trong thời điểm hiện tại. Những kẻ lạc quan hơn thì từng lập luận rằng, chúng ta chưa thấy được con người thực sự của Xi Jinping, rằng khi Quốc hội Trung Quốc giúp cho Xi tập trung được quyền lực, thì lúc đó các thay đổi thật sự về kinh tế và xã hội sẽ được hết lòng thực thi, như ông ta đã từng làm khi chống tham nhũng (có vẻ là) thành công. Nếu Xi là một kẻ lãnh đạo dân túy “kín”, thì chắc hẳn ông ta đã nguỵ trang rất khéo léo. Một hồi chuông cảnh báo cũng cần gióng lên cho những ai tin rằng mọi lãnh đạo đều có ngày “hết hạn sử dụng”, Xi Jinping được đánh giá là sẽ không dễ dàng thoái vị vào thời điểm năm 2022, mặc kệ đó là điều ông ta nên làm nếu dựa vào lịch sử chính trị Trung Quốc. Lý do để lo sợ Xi Jinping có lẽ nghĩ rằng việc một tay ông ta đang tập trung quyền lực hoặc có quyền hạn không bị kiểm soát để cai trị hơn 1.4 tỷ người dân – theo ngôn ngữ của chính Xi – là “tình trạng bình thường mới” của nền chính trị Trung Quốc. Nhưng đó là một điều không hề bình thường; đó là một điều nguy hiểm. Không ai nên được phép có một thứ quyền lực to lớn đến thế. Một vị lãnh đạo với quyền lực tối cao, đến cuối cùng, sẽ là một công thức cho tình trạng bất ổn định ở Trung Quốc mà chúng ta đã từng thấy trong quá khứ, dưới thời đại của Mao và Cuộc Cách mạng Văn hóa. Nó còn là một công thức cho những hành vi tùy tiện ở nước ngoài, mà đặt trong bối cảnh Trump hiện muốn Hoa Kỳ bế quan tỏa cảng và bỏ trống vị trí quyền lực tối cao nhất thế giới, thì điều này lại càng làm người ta quan ngại hơn. Thế giới không mong mỏi một nước Mỹ biệt lập với cộng đồng quốc tế, hay một nền độc tài trỗi dậy ở Trung Quốc. Mà Thượng đế hỡi, chúng ta có thể sẽ nhận được cả hai. Quỳnh Vi lược dịch Nguồn: The Economist: Xi Jinping has more clout than Donald Trump. The world should be wary. (Luật Khoa)
  5. Trong khi Zimbabwe đang trở thành tâm điểm của thế giới với vụ quân đội tước quyền của vị Tổng thống độc tài 93 tuổi khi ông này muốn trao quyền lại cho cô vợ trẻ, thì Venezuela đối mặt với đợt vỡ nợ đầu tiên. Hai quốc gia này, một ở Châu Phi và một ở Nam Mỹ tuy xa nhau nghìn dặm, nhưng có 2 điểm chung: đều là quốc gia xã hội chủ nghĩa, và đều là những nhà nước thất bại. Hình minh họa Thực tế là cả 2 quốc gia này có khởi đầu khác nhau nhưng lại trải qua nhiều biến cố giống nhau. Cả hai đều bắt đầu từ những nền kinh tế tư bản chủ nghĩa giàu có, trải qua làn sóng Mac-xít với những ảo tưởng về thiên đường xã hội đưa những kẻ độc tài lên đỉnh cao quyền lực, tới sự thất bại của nhà nước, nền kinh tế và cả hệ thống xã hội sau hàng chục năm thực thi các chính sách này. Hiện tại, cả hai đều đang ở bờ vực sụp đổ, kinh tế chao đảo do siêu lạm phát, tăng trưởng âm, nạn đói đe dọa tới sức khỏe và tính mạng của người dân, nhất là trẻ em. Tổng thống Mugabe bị Đảng loại bỏ, dân phản đối…nhưng vẫn kiên quyết không chịu thoái lui Ít ai ngờ được chỉ 40 năm trước, Zimbabwe là quốc gia giàu có và có năng suất lao động cao nhất Châu Phi. Ngày nay, nước này là một thảm họa. Khi vị Tổng thống 93 tuổi Robert Mugabe, người cầm quyền từ ngày Zibabwe độc lập – năm 1980, muốn truyền lại quyền lực cho vợ mình, thì quân đội đã can thiệp và tước bỏ quyền lực của ông ta. Vợ ông chạy trốn ra nước ngoài. Mugabe là một người gây nhiều tranh cãi. Với những quốc gia tư bản phương tây, ông ta là một kẻ độc tài, một kẻ mị dân. Nhưng với nhiều người da đen, ông là anh hùng, giúp giải phóng họ khỏi sự thống trị của thiểu số da trắng. Nhưng một điều rõ ràng là, tương tự Hugo Chavez tại Venezuela, nền kinh tế một thời giàu có của Zimbabwe đã bị phá tang hoang dưới thời Robert Mugabe. Sản lượng nông nghiệp suy giảm một nửa trong những năm 1990 khi Mugabe đuổi những chủ nông da trắng ra khỏi đồn điền của họ để thực thi “cướp của người giàu chia cho người nghèo”, trong khi những nông phu da đen ủng hộ ông ta không có kinh nghiệm quản lý nông trại. Cùng thời gian này cũng chứng kiến những đợt thanh trừng đầu tiên những người nói xấu chính sách xã hội chủ nghĩa Mac-xít của ông ta. Trong khi đó, một cuộc chiến không mong đợi tại Congo đã khiến Zimbabwe mắc nợ khổng lồ, lãi suất tăng chóng mặt và siêu lạm phát xuất hiện. Tỷ lệ lạm phát tăng từ khoảng 59% năm 2000 tới đỉnh là 80 triệu phần trăm cuối năm 2008. Tờ một triệu đô la Zimbabwe xuất hiện, nhưng không đủ mua một cái bánh mỳ. Để đối phó, chính phủ Mugabe tuyên bố “lạm phát là vi phạm pháp luật” và đóng khung giá bán cũng như tiền lương. Cửa hàng nào bán hàng với giá cao hơn giá niêm yết thì ông chủ sẽ bị tống vào tù. Kết quả: GDP giảm từ 6,78 tỷ USD năm 2001 xuống 4,4 tỷ USD năm 2008, theo số liệu của World Bank. Sau thảm họa kinh tế, ông Mugabe buộc phải thu hồi một số chính sách xã hội tồi tế nhất, khiến kinh tế nước này phục hồi một phần, nhưng đến nay nước này vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất và có hệ thống chính trị tồi tệ nhất thế giới. Giống như Zimbabwe, Venezuela, quốc gia sở hữu nhiều dầu mỏ nhất thế giới từng là một đất nước giàu có với tầng lớp trung lưu đông đảo. Nhưng bắt đầu từ năm 1999 khi làn sóng Mac-xít thâm nhập vào châu Mỹ La-tinh đem Hugo Chavez lên làm Tổng thống, chính phủ vươn tay thâu tóm khu vực kinh tế tư nhân với danh nghĩa phân chia lại của cải xã hội cho dân nghèo. Đến nay, Venezuela có nền kinh tế kém hiệu quả nhất thế giới với tổng số 60 tỷ USD nợ trái phiếu không thể trả được. Trên những mỏ dầu lớn nhất thế giới, công ty dầu khí quốc doanh thua lỗ đến mức không trả được nợ nước ngoài. Tổng thống Maduro sẵn sàng trấn áp phe đối lập để giữ thế độc tài toàn trị của đảng XHCN cầm quyền Nền kinh tế đang phải đối mặt với siêu lạm phát. Nhưng cũng như Zimbabwe, ông Maduro tuyên bố nước này “không có lạm phát”, và ngừng công bố số liệu thống kê này. “Venezuela đã vỡ nợ quốc gia, hết tiền, … nạn đói lan rộng, phần đông dân số nghèo đói và hệ thống y tế thì đổ nát”, tờ American Thinker nhật xét. “Công ty điện nhà nước phá sản, đường ống không có nước, cầu gẫy và đến giờ cả hệ tống tàu điện ngầm của thủ đô Caracas sắp bị đóng băng”. Dưới sự lãnh đạo của Chavez sau đó là người kế nhiệm Nicolas Maduro, các chính sách xã hội thù địch tư bản được thực thi và lĩnh vực tư nhân bị bóp nghẹt. Chính phủ chi tiêu quá đà trong hàng chục năm nhằm mua sự trung thành của người nghèo. Hàng núi nợ mà Caracas vay nhằm che giấu sự yếu kém của mình đã lộ diện kèm theo khủng hoảng kinh tế tất yếu. Một bài viết của CNN nhận định: “Chính phủ Venezuela, đã thất bại trong nhiều năm về việc cung cấp đủ thức ăn và thuốc uống cho người dân. Hậu quả là người dân xếp hàng hàng giờ để chờ mua thức ăn và chết dần trong bệnh viện do thiếu các tài nguyên cơ bản”. Điều khiến người ta vừa ngạc nhiên vừa thất vọng là rất nhiều người Mỹ, trong đó có cả những nghị sĩ quốc hội, lên tiếng ủng hộ những hình thái nhà nước thất bại này. Thậm chí vừa rồi, sau ngày kỷ niệm 100 năm ngày Bolshevik chiếm chính quyền Nga thành công – ngày bắt đầu cuộc thử nghiệm vĩ đại của chủ nghĩa xã hội Mac-xít, vẫn còn có người cho rằng loại hình thái này có thể thành công, nếu hội tụ đủ điều kiện tích hợp. Nhưng hồ sơ lịch sử của thế giới ghi rõ điều ngược lại. Mỗi năm, Tổ chức Di Sản Thế Giới công bố báo cáo Tự do kinh tế – một danh sách liệt kê các quốc gia trên thế giới theo thứ tự về mức độ tự do kinh tế, thường tương đồng với mức độ thành công của nền kinh tế đó. Không ngạc nhiên khi trong 180 quốc gia được xếp hạng, Venezuela đứng thứ 179 và Zibabwe đứng thứ 175. Và giống những nước trên, tất cả các quốc gia đứng cuối danh sách đều là những nước xã hội chủ nghĩa và độc tài toàn trị. Nếu một hãng sản xuất máy bay có tỷ lệ máy bay rơi là 100%, liệu trong tương lai bạn có bước lên 1 trong những chiếc do hãng này sản xuất hay không? Venezuela và Zimbabwe, giống như Liên Xô và các quốc gia Đông Âu, tiếp tục là chứng minh về sự thất bại của hệ thống chính trị mà Tổng thống Mỹ Donald Trump gọi là một “ý thức hệ suy đồi” hay “trục ma quỷ” dưới lời của Tổng thống Geogre W. Bush. Bất cứ nơi nào nó được đưa ra thử nghiệm, độc tài xuất hiện, nền kinh tế bị phá hủy, nhân quyền bị xâm phạm, người dân khổ sở, đói nghèo, bạo lực và chết chóc tràn lan. (Tri thức VN)
  6. Dưới đây là bài phản biện của ông Đường Bách Kiều (Tang Baiqiao) [*] với một nhà đấu tranh dân chủ khác chính kiến, sau khi tác giả có bài viết lên án một số cơ quan truyền thông chính thống của Mỹ đưa tin xuyên tạc sự thật. Xin được giới thiệu bài phản biện thú vị này của tác giả. Ông Đường Bách Kiều (nguồn Facebook Đường Bách Kiều). Hôm qua tôi đăng một bài viết phê bình New York Times trên trang Facebook cá nhân. Có một luật sư từng dấn thân đấu tranh nhân quyền trong nước đã thể hiện quan điểm bất đồng. Ông ấy cho rằng, “tại Mỹ, truyền thông là quyền lực thứ tư, là vua không đội vương miện. Việc giám sát Tổng thống và trợ tá thân cận là nguyên tắc phù hợp Hiến pháp, không nên chỉ trích!” Quan điểm của ông ấy có tính đại diện nhất định cho một nhóm người. Vì thế cần triển khai thảo luận về vấn đề này. Chúng ta bắt đầu từ một trường hợp. Halloween năm ngoái, có người trong lúc đi xem trận đá bóng tại sân thể thao Đại học Wisconsin đã đội theo một cái mặt nạ Obama có cái mũi rất dài, hàm ý Obama ưa đơm đặt chuyện. Hệ quả là truyền thông dòng chính của Mỹ đã đồng loạt lên án người này kỳ thị người đa đen. Sau đó trường Đại học này đã ra lệnh cấm sau này không cho mang bất cứ loại mặt nạ nào vào trong sân thể thao này, cho dù việc mang mặt nạ hoặc vẽ hình trên mặt là việc người Mỹ thường làm khi đi xem thể thao, đã trở thành một nét văn hóa của Mỹ. Huấn luyện viên đội bóng còn bị lên án, phải vội đứng ra xin lỗi rằng bản thân có trách nhiệm vì quản lý không tốt. Đây hoàn toàn là nói bừa. Trong câu chuyện này, vai trò của Obama là Tổng thống chứ không phải người da đen. Rõ ràng người khán giả này châm biếm một vị Tổng thống chứ không phải một người da đen. Trong trường hợp này, theo phát ngôn bất lương của truyền thông, bất cứ người da đen nào làm sai việc đều không nên bị chế giễu và lên án, nếu không đó là kỳ thị chủng tộc. Suy diễn tiếp, bất cứ người châu Mỹ Latin, người châu Á, người dân tộc thiểu số nào, nếu làm sai việc cũng không nên chế giễu và chỉ trích, bằng không là kỳ thị chủng tộc. Nếu quả thật như thế thì đất nước này có thể vận hành được không? (Sở dĩ nước Mỹ không giống như tỉ dụ của tôi là vì chúng ta không phải Obama, không phải Tổng thống, cho nên chế giễu Obama là Tổng thống người da đen là không thể, còn chế giễu người dân thường khác là người da đen, người châu Mỹ Latin, châu Á hoặc những người dân tộc thiểu số khác thì có thể). Bạn nghĩ như thế là bảo vệ người da đen hay bảo vệ Tổng thống? Tổng thống Obama chẳng lẽ có thể được miễn trừ bị truyền thông và công chúng giám sát lên án vì là người da đen? Nếu lập luận này được chấp nhận, giả sử bà Hillary làm Tổng thống thì chẳng lẽ cũng được miễn trừ bị truyền thông và công chúng giám sát phê bình vì là phụ nữ? Tương tự, tại sao truyền thông lại áp dụng tiêu chuẩn khác nhau đối với Tổng thống Obama và Tổng thống Trump? Như vậy có gọi là giám sát quyền lực công không? Có thể gọi là “vua không đội vương miện” được không? Chính họ đã khinh nhờn danh hiệu cao quý này! Trong tám năm qua, những cơ quan truyền thông này đưa phu nhân Michelle của Obama lên tận mây xanh, dường như chưa bao giờ chê bai bà ấy. Tạp chí People nổi tiếng còn đánh giá bà ấy là người phụ nữ đẹp nhất trên thế giới. Bà ấy có thật sự đẹp như thế không? Bất kể bà ấy mang trang phục như thế nào cũng luôn được tung hô rầm rộ rằng cách ăn mặc của bà ấy đã tao nhã lại duyên dáng. Trong khi phu nhân Melania của Trump xuất thân là một siêu mẫu lại thường xuyên bị những cơ quan truyền thông này chê bai giễu cợt về cách ăn mặc. Một lần bà Melania mang bộ trang phục có nơ bướm thì New York Times đăng bài nhận định bà ấy kháng nghị Trump vì những ngôn từ khiếm nhã đối với phụ nữ. Họ còn tìm ra một điển cố về nơ bướm, đại khái là có liên quan đến phong trào nữ quyền; một lần khác bà Melania mang một cái váy dài mà trông từ phía trước gần giống như cái khăn quàng cổ, New York Times lại gán ghép khiên cưỡng rằng đây là cái nơ bướm khổng lồ, đồng thời nhận định chắc nịch bà ấy thể hiện bất mãn đối với Trump qua cách biểu hiện khó hiểu. Đây đúng là nói năng bừa bãi cẩu thả! Đáng giận hơn là vì đã nhiều lần bà Melania công khai lên tiếng chuyện có bất mãn hay không với Trump, nhưng những cơ quan truyền thông này luôn khăng khăng nói rằng bà ấy muốn chống lại Trump. Việc này làm tôi liên tưởng đến thái độ của đảng Cộng sản Trung Quốc đối với tôn giả Đạt Lai Lạt Ma. Tôn giả đi đến đâu cũng nói công khai rằng ông không tìm kiếm Tây Tạng độc lập, chỉ muốn quyền tự trị cao cho Tây Tạng, thế nhưng đảng Cộng sản Trung Quốc lại tuyên truyền rằng ông ấy gây chia rẽ. Truyền thông như thế có xứng là quyền lực thứ tư thực hiện vai trò giám sát quyền lực công hay không? Rõ ràng họ đã trở thành tay chân ác ôn cho một số tập đoàn tư bản và chính đảng. Truyền thông là lương tri của xã hội, nguyên tắc cơ bản là khách quan, công chính và trung lập. Bất cứ cơ quan truyền thông nào xa rời nguyên tắc này thì cũng không còn mang ý nghĩa chân chính là cơ quan truyền thông nữa mà trở thành loại công cụ tuyên truyền mà thôi. Hiện nay có rất nhiều hãng truyền thông dòng chính ở Mỹ tùy tiện bẻ cong sự thật, không còn bất cứ sự khách quan công chính nào, hoàn toàn đánh mất nguyên tắc cơ bản của truyền thông, trở thành công cụ tuyên truyền cho một số thế lực chính trị và tập đoàn tài chính (trên thực tế có rất nhiều thế lực chính trị nước ngoài đã len lỏi vào truyền thông dòng chính của Mỹ). Như thế, cái gọi là truyền thông này không nên được tôn trọng và ủng hộ, càng không đủ tư cách để xứng với danh hiệu “vua không mang vương miện”. Nếu không, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc là Nhật báo Nhân dân Trung Quốc và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc cũng được xem là cơ quan truyền thông, cũng nên được người đời tôn trọng và ủng hộ, cũng có đủ tư cách được xem là “vua không mang vương miện”. Nhìn bề ngoài, truyền thông đại chúng và công cụ tuyên truyền có vẻ rất giống nhau, đều là tổ chức đưa tin, nhưng thực tế hoàn toàn khác. Một bên là trung thành với lương tri, nhằm phục vụ đông đảo công chúng trong toàn xã hội; một bên là trung thành với lợi ích, phục vụ cho một thiểu số kẻ thao túng truyền thông. Đường Bách Kiều Nguyễn Đoàn (dịch) [*] Ông Đường Bách Kiều là một trong những lãnh đạo sinh viên trong phong trào sinh viên đòi dân chủ tại Thiên An Môn Trung Quốc năm 1989, cũng là người viết Lời nói đầu cho cuốn sách nổi tiếng “Chết bởi Trung Quốc” (Death By China) của tác giả Peter Navarro – người đã được Tổng thống Mỹ Donald Trump bổ nhiệm phụ trách Ủy ban Thương mại Quốc gia. (Tri thức VN)
  7. Thường một bài diễn văn dù dài cũng chỉ có một vài ý chính. Trên mạng mấy hôm nay toàn bàn về những ý phụ, “râu ria” vô bổ, nên xin mạn phép tóm tắt bài diễn văn ở đây. Bản dịch tiếng Việt chính thức của bài diễn văn đã được tòa Đại sứ Mỹ cung cấp (http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-41958781), tuy nhiên bản này cũng có nhiều lỗi và có lẽ người dịch không rành tiếng Anh hoặc tiếng Việt lắm, hoặc đã tắc trách dùng Google Translate hơi nhiều! Nguyên văn tiếng Anh tại đây: https://www.whitehouse.gov/the-press-office/2017/11/10/remarks-president-trump-apec-ceo-summit-da-nang-vietnam. “America First” đã đưa Donald Trump lên chức vị Tổng thống Bài diễn văn của ông Trump thực ra chỉ có MỘT ý chính thôi, và đó cũng là ý mà ông đã dùng suốt từ khi tranh cử, là luận cứ cốt lõi ông đã dùng để thuyết phục dân Mỹ bầu cho ông. Ý đó là: TỪ LÂU CÁC NƯỚC QUÝ VỊ ĐÃ LỢI DỤNG NƯỚC MỸ, DÙNG THỦ ĐOẠN CẠNH TRANH BẤT CHÍNH ĐỂ LÀM GIÀU CHO NƯỚC QUÝ VỊ. TỪ GIỜ TRỞ ĐI CHÚNG TÔI SẼ KHÔNG ĐỂ QUÝ VỊ LÀM VẬY NỮA. AI BUÔN BÁN ĐÀNG HOÀNG THÌ CHÚNG TÔI SẼ BUÔN BÁN, CÒN KHÔNG THÌ THÔI. “Quý vị” đây tức là tất cả các nước khác ngoài Mỹ; không phải chỉ Trung Cộng mà còn Nhật, Hàn, Việt Nam (những nước ông ta đã từng nêu tên) và các nước khác trên thế giới. Ý trên là cốt lõi của khẩu hiệu “America First” đã đưa Trump lên chức vị Tổng thống. Một ý quan trọng, nhưng cũng từ ý chính mà ra, là từ giờ Mỹ sẽ chỉ ký các hiệp định thương mại song phương với từng nước chứ không ký đa phương (như TPP) nữa (“Hoa Kỳ sẵn sàng hợp tác VỚI TỪNG VỊ lãnh đạo trong khán phòng này ngày hôm nay để đạt thương mại có lợi cho đôi bên”). Những thủ đoạn cạnh tranh bất chính (lạm dụng thương mại) là gì thì có nói khá dài trong bài diễn văn. ---------- Tất cả các ý khác đều là phụ, râu ria, ngôn ngữ vuốt ve ngoại giao nhằm làm dịu tính cách cứng rắn của thông điệp này, cùng những nhận xét tổng quát vô thưởng vô phạt. Hầu như chắc chắn chúng do các chuyên viên viết diễn văn thảo, chứ Tổng thống không có thì giờ làm việc đó, nhất là một Tổng thống nổi tiếng là lười biếng những chuyện chi tiết như Trump. Một câu khá đặc biệt là khi nói về Hai Bà Trưng: ý này rõ ràng là muốn “đá giò lái” Trung Cộng. Dĩ nhiên, Trump không thể nghĩ ra ý này và có thể là một nhân viên ngoại giao gốc Việt, hoặc ít ra là rành văn hóa VN, nhét vào (Năm ngoái diễn văn của Obama ở Hà Nội cũng nói về Ly Thường Kiệt và bài thơ "Nam quốc sơn hà Nam Đế cư"). Một chữ mà mọi người mong đợi đã không xuất hiện trong diễn văn của ông Trump: nhân quyền. Chỉ có một lần ông dùng chữ "individual right" mà tòa Đại sứ Mỹ dịch là "quyền hạn cá nhân". Điều này dễ hiểu vì ai cũng biết rằng Trump hoàn toàn không quan tâm đến nhân quyền, ở Mỹ cũng như ở nước khác. Cũng nên biết rằng ở Mỹ chữ "individual right" thường được phe hữu dùng kèm với "to bear guns" để bảo vệ quyền cầm súng của người Mỹ. Có một câu, thực ra không có gì quan trọng (chỉ là "kem thoa ngoại giao"), nhưng bị hiểu lầm và thổi phồng quá nhiều trên mạng nên xin bàn một chút. Đó là câu “I am always going to put America first the same way that I expect all of you in this room to put your countries first” mà nhiều người dịch là “tôi luôn luôn đặt nước Mỹ trên hết và mong đợi các bạn cũng đặt nước các bạn trên hết”, rồi bàn loạn rằng Trump muốn dạy bảo các lãnh đạo CSVN phải biết nghĩ đến đất nước! Ngay cả bản dịch của TĐS Mỹ cũng sai ở chỗ này. Thực ra, câu này có nghĩa là “tôi luôn luôn đặt nước Mỹ trên hết và TÔI CHẮC RẰNG tất cả các quý vị trong phòng này cũng đều đặt nước các quý vị trên hết”. Chữ expect đây có nghĩa là nghĩ rằng, chắc rằng, giống như “I expect some rain today”: tôi nghĩ rằng hôm nay sẽ có mưa (dù là bạn đang thèm đi biển và không “mong đợi” mưa chút nào). Nên nhớ là câu này hướng tới tất cả các nước APEC (“all of you in this room”) chứ không riêng cho VN! Phạm Quang Tuấn (Bauxite VN)
  8. Trước đây đã có một quốc gia Nam Mỹ với một tương lai đầy hứa hẹn. Nó có một nền dân chủ đang hoạt động tốt, một nền kinh tế phát triển mạnh, và một tầng lớp trung lưu ngày càng nhiều. Tất cả những dấu hiệu, bao gồm giáo dục, y tế, và đầu tư nước ngoài, đều chỉ đến đường lối đúng đắn. Nó không hoàn hảo, nhưng người dân đầy hy vọng – và với lý do chính đáng. Nhưng tất cả sự hứa hẹn đó đã biến mất. Đất nước đó bây giờ là một quốc gia thất bại, một cái bóng của nó trước đây. Những dịch vụ như điện và nước rất lẻ tẻ. Những hàng tiêu dùng cơ bản nhất, từ bánh mì đến giấy vệ sinh, đều đang thiếu thốn trầm trọng. Tội phạm đã tăng vọt. Tự do báo chí cũng gần như không tồn tại. Nền dân chủ đã được thay thế bởi một chế độ gần như là độc tài. Đất nước ấy tất nhiên là Venezuela. Chỉ có 1 từ diễn tả chuyện gì đã xảy ra với nó : Chủ nghĩa Xã hội (CNXH). Vào năm 1999, khi là ứng cử viên tổng thống, Hugo Chavez đã hứa hẹn là sẽ dẫn dắt người dân Venezuela đến một thiên đường chủ nghĩa xã hội. Khẩu hiệu của ông ta là “Esperanza y Cambio” – Hy vọng và Thay Đổi. “Venezuela là một quốc gia giàu có,” Chavez đã nói, “nhưng nó đang bị đánh cắp từ người dân của nó bởi những nhà tư bản ác độc và các tập đoàn ma quái.” Sự sai trái này sẽ được làm đúng lại, ông ta đảm bảo các cử tri như vậy, nếu họ bầu chọn ông ta. Và họ đã làm như vậy. Và họ đã vô cùng hối hận. Nicolas Maduro Chavez lấy cảm hứng của mình từ nhà tư vấn của ông ta, Fidel Castro. Như người tư vấn của mình, ông ta thích thực hiện các bài diễn văn – vài cái kéo dài đến 7 tiếng đồng hồ. Ông ta thậm chí tự tạo cho bản thân một chương trình truyền hình, nơi ông ta sẽ nói như hát nhạc liên tục. Dưới thời Chavez, chính phủ Venezuela đã cưỡng chế lĩnh vực này đến lĩnh vực khác. Chính phủ, ông ta trấn an mọi người, là sẽ điều hành những doanh nghiệp đó tốt hơn doanh nghiệp tư nhân, và lợi nhuận sẽ được chia đều cho người dân. Với sự phô trường đó, ông ta đã xé bỏ những hợp đồng với các công ty dầu khí và xăng, và yêu cầu họ trả hoa hồng cao hơn rất nhiều. Khi họ từ chối, ông ta kêu họ hãy rời khỏi nước. Họ đã làm điều đó. Hình ảnh của ông ta được đánh bóng bởi những diễn viên Hollywood nổi tiếng, những người ùa đến để xem nỗ lực tuyệt vời mà ông ta đang làm – lấy tiền từ người giàu và đưa cho người nghèo. Các chính trị gia cánh tả ở Mỹ và Châu Âu cũng ca ngợi ông rất nhiều. Chủ nghĩa xã hội luôn hoạt động tốt trong giai đoạn đầu, cho nên người ta bị lừa bởi ban đầu. Rất dễ để các chính phủ tịch thu tiền, nhưng cuối cùng thì sẽ không còn tiền để tịch thu nữa. Trong trường hợp của Venezuela, thật lòng mà nói: những ai có thể đem tiền ra khỏi đất nước, đã làm như vậy. Nhiều người đã rời bỏ đất nước luôn – gần 2 triệu người, dựa theo nhà xã hội học người Venezuela, Tomas Paez. Những người tạo ra của cải tiếp tục tạo ra của cải, nhưng họ đã tạo nó ở chỗ khác – như Miami hay Madrid và những nơi khác trên thế giới. Người nghèo ở Venezuela Khi Chavez tranh cử chức tổng thống lần đầu tiên vào năm 1999, ông ta nói là ông ta sẽ từ chức trong 2 năm nếu người dân không hài lòng với ông ta. Nhưng cũng như Castro, Chavez chưa bao giờ có ý định từ bỏ quyền lực. Ông ta đã chết khi còn cầm quyền vào năm 2013, được thay thế bởi phó tổng thống của ông, Nicolas Maduro. Maduro giống Chavez nhưng không có sự quyến rũ hoặc giọng nói hay. Đất nước bây giờ đang lâm nguy, bị xa lánh bởi thế giới và cô lập. Nó tệ đến mức nhiều hãng hàng không quốc tế từ chối bay đến đó. Người dân xếp hàng dài hàng tiếng đồng hồ để mua đồ ăn. Đôi lúc họ đi về trắng tay. Một khảo sát gần đây cho thấy rằng 75 phần trăm người lớn ở Venezuela đã giảm cân vào năm 2016 – trung bình là 8.6 kg. Chương trình giảm cân toàn quốc này được gọi là “chương trình giảm cân Maduro”. Tuy nhiên, Maduro vẫn cầm quyền. Các nhà lãnh đạo và phóng viên đối lập mà nói lên sự thật thì bị bỏ tù. Venezuela là một câu chuyện để cảnh báo cho người khác. Một khi đất nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, thì không thể dễ dàng quay lại. Và đất nước càng theo CNXH càng lâu, thì càng khó để cải cách nó. Venezuela đã là một đất nước CNXH gần hai thập niên nay. Nếu bạn không nghĩ nó có thể xảy ra ở đây, cho dù đó là Mỹ hay Châu Âu hay Việt Nam,… bất cứ nơi nào khác, thì bạn đang tự dối lòng mình. Khi người dân quen với việc lệ thuộc vào chính phủ – cho dù họ nghèo đến mức nào đi nữa, thì sự lệ thuộc đó rất khó phá vỡ. Đó là tại sao bạn đừng bao giờ tin sự giả dối của CNXH. CNXH chính là ma túy. Và như ma túy, nó cảm thấy rất tuyệt vời lúc ban đầu. Nhưng cuối cùng thì nó sẽ phá nát đất nước của bạn. Cũng như nó đã phá nát Venezuela. (VietFact)
  9. Chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay như một đám lục bình chỉ nổi bập bềnh trên mặt nước. Sự tồn tại của nó chỉ dựa vào sự trung thành của công an. Do đó, một mặt, đảng cộng sản đưa ra sự khuyến dụ đối với công an: “Còn đảng, còn mình”; mặt khác, họ ngoảnh mặt làm ngơ trước hai tệ nạn do công an gây ra: tham nhũng và trấn áp dân chúng một cách dã man. Trước đây, trên thế giới, có 15 quốc gia chính thức theo chủ nghĩa cộng sản và 11 quốc gia tự nhận là cộng sản hoặc theo khuynh hướng cộng sản. Mười lăm quốc gia ở trên là: Albania, Bulgaria, Czechoslovakia, Đông Đức, Hungary, Mông Cổ, Ba Lan, Romania, Liên Xô, Yugoslavia, Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam. Mười một quốc gia ở dưới là: Angola, Benin, Congo, Ethiopia, Mozambique, Zimbabwe, Grenada, Nicaragua, Campuchia, Afghanistan và Nam Yemen. Tổng cộng, từ hai bảng danh sách ấy, có cả thảy 26 nước cộng sản hoặc có khuynh hướng theo cộng sản. Từ đầu thập niên 1990, tất cả các chế độ cộng sản ấy đều lần lượt sụp đổ. Hiện nay, trên cả thế giới, chỉ còn năm nước mang nhãn hiệu cộng sản: Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên, Lào và Việt Nam. Chưa có dấu hiệu nào cho thấy chủ nghĩa cộng sản ở năm quốc gia này sẽ sụp đổ sớm. Trong năm nước, có ba nước có quan hệ chặt chẽ với nhau: Trung Quốc, Việt Nam và Lào. Có lẽ Lào chỉ thay đổi được thể chế chính trị nếu, trước đó, Việt Nam cũng thay đổi; và Việt Nam có lẽ chỉ thay đổi nếu trước đó Trung Quốc cũng thay đổi. Như vậy, quốc gia có khả năng châm ngòi cho bất cứ sự thay đổi lớn lao nào là Trung Quốc. Tuy nhiên, ngay cả khi Trung Quốc và Việt Nam chưa thay đổi và chưa từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, giới nghiên cứu cũng phát hiện những dấu hiệu suy tàn âm thầm của chủ nghĩa cộng sản bên trong hai quốc gia này. Ở đây, tôi chỉ tập trung vào Việt Nam. Nhìn bề ngoài, chế độ cộng sản tại Việt Nam vẫn mạnh. Hai lực lượng nòng cốt nhất vẫn bảo vệ nó: công an và quân đội. Dân chúng khắp nơi bất mãn nhưng bất mãn nhất là nông dân, những người bị cướp đất hoặc quá nghèo khổ. Có điều nông dân chưa bao giờ đóng được vai trò gì trong các cuộc cách mạng dân chủ cả. Họ có thể thành công trong một số cuộc nổi dậy nhưng chỉ với một điều kiện: được lãnh đạo. Trong tình hình Việt Nam hiện nay, chưa có một tổ chức đối kháng nào ra đời, hy vọng nông dân làm được gì to lớn chỉ là một con số không. Ở thành thị, một số thanh niên và trí thức bắt đầu lên tiếng phê phán chính phủ nhưng, một, số này chưa đông; và hai, còn rất phân tán. Nói chung, trước mắt, đảng Cộng sản vẫn chưa gặp một sự nguy hiểm nào thật lớn. Thế nhưng, nhìn sâu vào bên trong, chúng ta sẽ thấy quá trình mục rữa của chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu và càng ngày càng lớn. Như một căn bệnh ung thư bên trong một dáng người ngỡ chừng còn khỏe mạnh. Sự mục rữa quan trọng nhất là về ý thức hệ. Khác với tất cả các hình thức độc tài khác, chủ nghĩa cộng sản là một thứ độc tài có… lý thuyết, gắn liền với một ý thức hệ được xây dựng một cách có hệ thống và đầy vẻ khoa học. Thật ra, chủ nghĩa phát xít cũng có lý thuyết, chủ yếu dựa trên sức mạnh và tinh thần quốc gia, nhưng không phát triển thành một hệ thống chặt chẽ và có ảnh hưởng sâu rộng như chủ nghĩa cộng sản. Còn các chế độ độc tài ở Trung Đông chủ yếu gắn liền với tôn giáo cộng với truyền thống quân chủ kéo dài (thường được gọi là độc tài quốc vương, sultanistic authoritarianism) hơn là lý thuyết. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh: các chế độ cộng sản không thể tồn tại nếu không có nền tảng ý thức hệ đằng sau. Ý thức hệ cộng sản một thời được xem là rất quyến rũ vì nó bao gồm cả hai kích thước: quốc gia và quốc tế. Ở bình diện quốc gia, nó hứa hẹn giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân; ở bình diện quốc tế, nó hứa hẹn giải phóng giai cấp vô sản và tạo nên sự bình đẳng và thịnh vượng chung cho toàn nhân loại. Ở bình diện thứ hai, chủ nghĩa cộng sản, gắn liền với một ước mơ không tưởng, rất gần với tôn giáo; ở bình diện thứ nhất, đối lập với chủ nghĩa thực dân, nó rất gần với chủ nghĩa quốc gia. Trên thực tế, hầu hết các nước cộng sản trước đây đều cổ vũ và khai thác tối đa tinh thần quốc gia trong cả quá trình giành chính quyền lẫn quá trình duy trí chế độ. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc gia dễ thấy nhất là ở các nước thuộc địa và cựu thuộc địa như Việt Nam. Sau năm 1991, tức sau khi chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ý thức hệ cộng sản cũng bị phá sản theo. Thực trạng nghèo đói, bất công và áp bức dưới các chế độ cộng sản ấy đều bị vạch trần và phơi bày trước công luận. Sự hứa hẹn về một thiên đường trong tương lai không còn được ai tin nữa. Tính hệ thống trong chủ nghĩa Marx-Lenin cũng bị đổ vỡ. Nền tảng ý thức hệ của các chế độ cộng sản bị tan rã tạo thành một khoảng trống dưới chân chế độ. Để khỏa lấp cái khoảng trống ấy, Trung Quốc sử dụng hai sự thay thế: chủ nghĩa Mao và Nho giáo (trong chủ trương tạo nên một xã hội hài hòa, dựa trên lòng trung thành). Việt Nam, vốn luôn luôn bắt chước Trung Quốc, không thể đi theo con đường ấy. Lý do đơn giản: Đề cao chủ nghĩa Mao là một điều nguy hiểm cả về phương diện đối nội lẫn đối ngoại; còn với Nho giáo, một là Việt Nam không am hiểu sâu; hai là, nó đầy vẻ… Tàu, rất dễ gây phản cảm trong quần chúng. Bế tắc, Việt Nam bèn tạo nên cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng ông Hồ Chí Minh lại không phải là một nhà lý thuyết. Ông chỉ là một người hành động. Ông viết nhiều, nhưng tất cả đều rất thô phác và đơn giản. Hơn nữa, ở Việt Nam hiện nay, cũng không có một người nào giỏi lý thuyết để từ những phát biểu sơ sài của Hồ Chí Minh xây dựng thành một hệ thống sâu sắc đủ để thuyết phục mọi người. Thành ra, cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn không trám được khoảng trống do sự sụp đổ của ý thức hệ Marx-Lenin gây ra. So với Trung Quốc, khoảng trống này ở Việt Nam lớn hơn gấp bội. Mất ý thức hệ cộng sản, chính quyền Việt Nam chỉ còn đứng trên một chân: chủ nghĩa quốc gia. Nhưng cái chân này cũng rất èo uột nếu không muốn nói là đã lung lay, thậm chí, gãy đổ. Trên nguyên tắc, Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước rất cao. Bao nhiêu chế độ ra đời từ giữa thế kỷ 20 đến nay đều muốn khai thác và tận dụng lòng yêu nước ấy. Tuy nhiên, với chế độ cộng sản hiện nay, việc khai thác vốn tài sản này gặp rất nhiều khó khăn. Lý do là lòng yêu nước bao giờ cũng gắn liền với sự căm thù. Không ai có thể thấy rõ được lòng yêu nước trừ phi đối diện với một kẻ thù nào đó của đất nước. Hai kẻ thù chính của Việt Nam, trong lịch sử mấy ngàn năm, là Trung Quốc; và gần đây nhất, là Mỹ. Nhưng Việt Nam lại không dám nói quá nhiều về hai kẻ thù này. Với Mỹ, họ cần cả về phương diện kinh tế lẫn phương diện chiến lược. Đề cao truyền thống chống Mỹ, do đó, là điều rất nguy hiểm. Đề cao truyền thống chống Trung Quốc lại càng nguy hiểm hơn: Trung Quốc có thể đánh hoặc ít nhất đe dọa VIệt Nam bất cứ lúc nào. Bởi vậy, Việt Nam, một mặt, phải hạ giọng khi nói về truyền thống chống Mỹ và phải né tránh việc nhắc nhở đến truyền thống chống Trung Quốc. Hai hành động này có lợi về phương diện đối ngoại nhưng lại có tác hại nghiêm trọng về phương diện đối nội: chính quyền hiện ra, dưới mắt dân chúng, như những kẻ hèn, hèn nhát và hèn hạ. Từ một chế độ được xây dựng trên thành tích chống ngoại xâm, chế độ cộng sản tại Việt Nam lại bị xem như những kẻ bán nước, hoặc bán nước dần dần bằng cách hết nhượng bộ điều này sang nhượng bộ điều khác trước sự uy hiếp của Trung Quốc. Trước sự sụp đổ của cả hai nền móng, ý thức hệ cộng sản và chủ nghĩa quốc gia, đảng Cộng sản Việt Nam bèn chuyển sang một nền tảng khác: kinh tế với phương châm ổn định và phát triển. Nội dung chính của phương châm này là: Điều cần nhất đối với Việt Nam hiện nay là phát triển để theo kịp các quốc gia khác trong khu vực cũng như, một cách gián tiếp (không được nói công khai), đủ sức để đương đầu với Trung Quốc. Nhưng để phát triển, cần nhất là phải ổn định về chính trị, nghĩa là sẽ không có thay đổi về thể chế và cũng không chấp nhận đa đảng. Phương châm ấy, thật ra, là một sự bịp bợm: Nó chuyển vấn đề từ chính trị sang kinh tế với lý luận: nếu vấn đề quan trọng nhất của Việt Nam hiện nay là vấn đề kinh tế thì mọi biện pháp sửa đổi sẽ chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế. Với lập luận này, chính quyền có thể trì hoãn mọi yêu cầu cải cách chính trị. Tuy nhiên, nó hoàn toàn không thuyết phục, bởi, ai cũng thấy, lãnh vực kinh tế là mặt mạnh nhất của chủ nghĩa tư bản và cũng là mặt yếu nhất của chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản. Tất cả các quốc gia dân chủ ở Tây phương đều có hai đặc điểm nổi bật: về chính trị, rất ổn định và hai, về kinh tế, rất phát triển. Ở Việt Nam, người ta cố thu hẹp phạm vi so sánh: các cơ quan truyền thông chính thống chủ yếu tập trung vào các nước Đông Nam Á, đặc biệt Thái Lan với một thông điệp chính: đa đảng như Thái Lan thì lúc nào cũng bị khủng hoảng. Nhưng ở đây lại có hai vấn đề: Một, dù liên tục khủng hoảng về chính trị, nền kinh tế của Thái Lan vẫn tiếp tục phát triển, hơn hẳn Việt Nam; hai, ngày nay, do xu hướng toàn cầu hóa, tầm nhìn của dân chúng rộng rãi hơn nhiều; chính quyền không thể thu hẹp mãi tầm nhìn của họ vào tấm gương của Thái Lan được. Về phương diện lý luận, chiêu bài ổn định và phát triển, do đó, không đứng vững. Về phương diện thực tế, những sự phá sản của các đại công ty quốc doanh và đặc biệt, khối nợ nần chồng chất của Việt Nam khiến dân chúng càng ngày càng thấy rõ vấn đề: các chính sách kinh tế của Việt Nam không hứa hẹn một sự phát triển nào cả, nếu không muốn nói, ngược lại, chỉ lún sâu vào chỗ bế tắc. Thành ra, có thể nói, tất cả các nền tảng chế độ cộng sản Việt Nam muốn nương tựa, từ chủ nghĩa Marx-Lenin đến chủ nghĩa quốc gia và lập luận ổn định để phát triển, đều lần lượt sụp đổ. Chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay như một đám lục bình chỉ nổi bập bềnh trên mặt nước. Sự tồn tại của nó chỉ dựa vào sự trung thành của công an. Do đó, một mặt, đảng cộng sản đưa ra sự khuyến dụ đối với công an: “Còn đảng, còn mình”; mặt khác, họ ngoảnh mặt làm ngơ trước hai tệ nạn do công an gây ra: tham nhũng và trấn áp dân chúng một cách dã man. Nhưng chính sách này chỉ càng ngày càng biến công an thành một đám kiêu binh và càng ngày càng đẩy công an cũng như chính quyền trở thành xa lạ với dân chúng. Sự xa lạ này càng kéo dài và càng trầm trọng, đến một lúc nào đó, trở thành đối nghịch với quần chúng. Một nhà nước được xây dựng trên một đám kiêu binh, trong thời đại ngày nay, không hứa hẹn bất cứ một tương lai nào cả. Nguyễn Hưng Quốc (VOA)
  10. 11 giờ đêm qua, 13/11/2017, tôi còn nhận được thêm tin nhắn nữa, yêu cầu tôi viết tiếp câu chuyện các Start up Singapore tìm cách ngăn chận mạng Alibaba để bảo vệ các nhà bán lẻ nội địa. Tôi chợt nhớ là tôi còn chưa kể về câu kết mà anh bạn Singapore hôm đó đã nói: “Việt Nam các bạn đang bị xâm chiến lãnh thổ, sao không thấy ai và chính sách nào bảo vệ?". Hình minh họa Ý anh nói về quyền làm chủ không gian mạng. Để xác tín điều mình nói, anh còn chứng minh. Anh bảo tôi thử chọn mua một món hàng. Tôi chọn mua gach ceramic xây nhà. Và anh bắt đầu thao tác. Đây, tôi gõ tìm mua trên các trang mạng Việt Nam nhé. Kết quả, hầu hết là các địa chỉ công ty nước ngoài, và nhiều nhất là tên nhà cung ứng Alibaba. Rồi anh gõ tiếp yêu cầu này trên mạng có đuôi .sg của Singapore. Kết quả, chỉ thấy toàn là tên nhà sản xuất và cung ứng của Singapore. Anh kết luận. Các doanh nghiệp start up chúng tôi đã nỗ lực thành công, bịt được thị trường số, không cho Alibaba xâm chiếm, giành thị phần các doanh nghiệp nhỏ. Ví dụ của anh bạn Singapore là rất thật vì tên món hàng tôi lựa là ngẫu nhiên. Nhưng, dù cảm phục “chủ nghĩa ái quốc” qua lời anh, sau đó, tôi vẫn cứ tìm cách đưa nó về với không gian thực của thị trường Singapore. Ở đó, có đến 65% giao dịch mua bán của dân là qua mạng. Tôi biết, với các bạn sành sõi tin học thì sử dụng thuật toán để ngăn chận và ưu tiên cho hiển thị những cái tên nào, để khi tra cứu là xuất hiện các cái tên, địa chỉ như ý, là điều không khó làm. Vậy thì phải đặt tiếp các câu hỏi, cũng khá giản đơn: Alibaba giàu mạnh lắm, đâu dễ chịu thua những thuật toán thông dụng? Chính phủ Singapore dù muốn bảo vệ đa số doanh nghiệp của họ ( là DN nhỏ đang làm ăn trên mạng), họ đâu thể bóp méo môi trường cạnh tranh khi muốn duy trì vị thế "đất hứa" cho tất cả khách hàng kinh doanh mạng trên thế giới, mà Alibaba là tay chơi có máu mặt?. Tại Singapore, chúng ta biết là Amazon cũng như Google và Facebook đều có đặt máy chủ ở đây. Cơ chế hoạt động của các ông lớn này là xây mạng lưới hàng trăm hàng ngàn máy chủ khắp nơi trên thế giới, những nơi có hạ tầng tốt và môi trường kinh doanh minh bạch, dung lượng thị trường đủ lớn. Hàng ngày họ dùng thuật toán để bắt mạch xem lượng truy cập, sử dụng nơi nào tăng cao, đột biến thì họ kích hoạt các máy chủ gần đó để giảm tải và để người tiêu dùng ở đó vẫn truy cập với tốc độ cao được. Vậy Jack Ma đối phó cách nào? Anh Ma có bài rất ma, rất tinh quái. Tôi đoán, anh sợ bị dân Singapore ghét, bị doanh nghiệp nhỏ Singapore công khai chống đối, bèn đưa công ty con của anh vào. Đó là mang Taobao. Tao bao làm gì? Câu chuyện diễn ra lý thú lắm mà khuôn khổ một stt khó nói đủ (đành mời bạn hãy đọc Thế giới Tiếp thị, mình đang viết bài khá dài nộp tòa soạn bản in hay bạn hãy đọc ở www.tiepthithegioi ngày mai). Độc chiêu của anh Ma chính là… giá rẻ. Chiêu này xưa như trái đất mà vẫn đủ sức “phế võ công” ngay cả những cao thủ thượng thừa. Tôi gọi điện thoại cho một anh bạn Singapore khác, hỏi về chuyện người Sing shopping vào hôm Lễ độc thân, là ngày ta đã đọc nhiều câu chuyện về doanh số dữ dằn nhất của Alibaba ở Trung Quốc...Anh bạn kể nhiều chuyện khá vui và lý thú. Tôi hỏi, vậy rồi các doanh nghiệp nhỏ Singapore làm sao sống? Anh nói tỉnh bơ: CHÍNH PHỦ SINGAPORE MUỐN SỐNG THÌ PHẢI LÀM SAO CHO DOANH NGHIỆP SỐNG CHỨ SAO? Đó là chuyện sống còn của mỗi chính phủ mà. Nên họ phải đổ nhiều trăm triệu đô và đưa đề toán khó cho nhiều giới cùng giải. Kết quả là họ vừa đưa ra chương trình mới rất thiết thực: SMEs Go Digital. Giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ xây dựng khả năng kỹ thuật số để nắm bắt cơ hội phát triển trong nền kinh tế kỹ thuật số. Dù nhỏ, các doanh nghiệp phải được trang bị cách tiếp cận có cấu trúc và toàn diện hơn, ví dụ, họ được học việc bán hàng trực tuyến, nhận đơn đặt hàng và thanh toán số, tối ưu hóa chuỗi cung ứng, quản lý tài nguyên và thanh toán. DN thích giải pháp khác, cũng có. Chính phủ còn lập ra Trung tâm Công nghệ Kỹ thuật số SME để đồng hành tư vấn sát sao cho doanh nghiệp. Và nên nhớ, mọi chi phí tư vấn là free nhé. Trong khi đó, các công ty Mỹ hay các nước, muốn sống cũng phải đua với Taobao. Anh bạn Singapore hào hứng kể. Mẹ tôi vừa lên mạng đặt mua thử 2 két nước ngọt Coca Cola và được hứa sẽ giao hàng ngay sau 2 giờ với phí chuyển hàng là 2 đô Sing. Và đúng 2 giờ sau, hàng chở đến giao tận cửa, chỉ thu 2 đô Sing thật. Ai vậy? Hãng Amazon chứ ai. Giờ họ đã chớp nhoáng hoàn thiện mạng lưới giao hàng nhanh, rẻ khắp Singapore. Sốc không? Và tuy không nói ra, chính phủ ủng hộ, thưởng đậm cho những sáng kiến giúp các DN nhỏ, start up bảo vệ được mạng lưới bán hàng của mình. Như vậy, chính phủ vẫn để thị trường tự vận hành trong môi trường kinh doanh tự do, nhưng chính họ cũng phải làm vai trò quyết định như mọi chính phủ: đặt và thực thi luật chơi, ủng hộ, bảo vệ doanh nghiệp nhỏ nước mình đúng luật, chuyên nghiệp, hiệu quả. Anh bạn Singapore kết luận. Chính phủ phải vận hành một hệ sinh thái bảo vệ và phát triển DN, nhất là DN nhỏ. Phải chơi đúng kiểu thị trường. Alibaba mạnh lắm, mà né Alibaba này thì cũng có…40 tên cướp khác. Mình phải biết cách tự bảo vệ để phát triển, thế thôi. Phẩm chất của một chính phủ, lòng tin cậy hay không của dân và DN là ở chỗ CP có thiết lập được hệ sinh thái đó và thực lòng vận hành nó hay không, vậy thôi. Vũ Kim Hạnh (FB. Vũ Kim Hạnh)
  11. Đây không phải là kết thúc đẹp mà chúng ta đã những tưởng rằng sẽ tới. Khi Myanmar bầu chọn đảng của Daw (dì/bà -tiếng Myanmar) Aung San Suu Kyi lên nắm quyền, bà ta đã được tung hô gần giống như một vị thánh chính trị, một biểu tượng đã chịu đựng muôn vàn khổ đau để dẫn dắt người dân nước bà từ độc tài sang dân chủ. Những tín hiệu độc tài đã bị phớt lờ vì một thứ tâm lý chính trị phổ biến: thiên kiến xác nhận (comfirmation bias). Ảnh: The New York Times. Tổng thống Barack Obama ca ngợi bà ta. Hillary Clinton ôm chầm lấy bà ta giữa công chúng. Lãnh đạo phe đa số trong Thượng Viện Hoa Kỳ, Mitch McConnell, từng so sánh bà với Gandhi. Giờ đây, bà Aung San Suu Kyi, vị lãnh tụ trên thực tế của Myanmar, là mục tiêu công kích trên toàn thế giới vì bà chọn ủng hộ lực lượng quân đội Myanmar trong việc tiến hành một chiến dịch giết chóc, hãm hiếp và tra tấn chống lại nhóm dân thiểu số người Rohingya theo đạo Hồi. Cho dù màn sụp đổ danh tiếng của bà ta trông có vẻ hoành tráng đặc biệt, nó thực ra lại là một câu chuyện “thường ngày ở huyện”: Các nhà lãnh đạo phương Tây thường cổ súy một số cá nhân, vốn thường là những nhà hoạt động đã có những hy sinh anh dung, như thể họ là chìa khòa vạn năng để giải quyết vấn đề cho các nền độc tài hay các nền dân chủ non trẻ yếu ớt. Trong nỗ lực cháy bỏng mong muốn tìm được một giải pháp đơn giản cho vấn đề đầy phức tạp đó là chuyển đổi chính trị, các nhà lãnh đạo phương Tây thường bỏ qua những khiếm khuyết của những người anh hùng họ đang suy tôn, và thường không nhìn ra được những thử thách mà các vị anh hùng đấy phải đối mặt khi lên nắm quyền. Các nhà lãnh đạo phương Tây thường giả định rằng đất nước nào cũng là sản phẩm của lãnh đạo nước đó, trong khi thực tế thì luôn ngược lại. Tu viện Ywama, vốn ủng hộ phong trào Phật giáo dân tộc Ma Ba Tha tại Yangon. Bà Aung San Suu Kyi từng nói vào năm 2013 rằng người dân theo đạo Phật lo sợ “bá quyền Hồi giáo toàn cầu”. Ảnh: Adam Dean/The New York Times. Những dấu hiệu cảnh báo “Chúng ta cứ liên tục lâm vào cái hoàn cảnh này: hoặc là thần tượng còn không thì phải ác quỷ hóa những vị lãnh đạo nước ngoài,” Danielle Lupton nhận xét. Bà là một nhà khoa học chính trị của trường Đại học Colgate chuyên nghiên cứu về việc hành vi lãnh đạo ảnh hưởng như thế nào đến chính sách ngoại giao. Một số lý do cho hiện tượng đó đơn thuần là lý do vì mục đích chính trị. Tuy nhiên bà Luton tin rằng những phán xét đen trắng đơn giản như thế có gốc gác sâu xa từ một hiện tượng tâm lý học ít được biết đến, khiến cho việc có những phán xét như thế khó mà tránh khỏi, và khiến cho người đưa ra những phán xét như thế khó mà thay đổi quan điểm của họ. “Trong tâm lý học chính trị, có một khái niệm này về thiên kiến xác nhận (confirmation bias): đó là khi bạn có một niềm tin đã xác định từ trước về kết quả của một vụ việc nào đó, hay trong trường hợp đang nói ở đây là về câu hỏi rằng con người kia là tốt hay là xấu.” Lupton giải thích. Thiên kiến xác nhận dẫn dắt con người ta một cách vô thức. Nó khiến người ta chỉ chọn lựa tiếp nhận những thông tin nào ủng hộ cho các niềm tin sẵn có của họ – và khiến cho người ta phớt lờ những dữ kiện đi ngược lại niềm tin. Khái niệm này giúp giải thích tại sao những ai đã từng tôn vinh cổ súy bà Aung San Suu Kyi ở phương Tây thường trông có vẻ là đã không nhìn ra được những dấu hiệu cho thấy rằng vị chính trị gia này có thể không thực sự là một mẫu mực bảo vệ những giá trị tự do dân chủ. Ví dụ, trong một cuộc phỏng vấn trên BBC năm 2013, bà Aung San Suu Kyi đã phản kháng một cách lỗ mãng khi được hỏi về vấn đề bạo lực dâng cao chống lại người Rohingya. Bà nói rằng cả những người dân theo đạo Phật cũng đang bị buộc phải rời nhà cửa của mình, và nỗi sợ hãi là thứ “hai bên đều có.” Khi được hỏi tại sao bạo lực phần lớn lại chỉ ảnh hưởng đến người theo đạo Hồi, bà Aung trốn tránh, nói rằng người dân theo đạo Phật đang phải sống trong nỗi sợ hãi “bá quyền Hồi giáo toàn cầu.” Cho dù các biểu hiện hành vi nói trên xuất hiện ngày một nhiều trong quá trình vươn lên đỉnh cao quyền lực của bà Aung, chúng lại mâu thuẫn với hình ảnh thánh thiện của bà ta, và vì thế phần lớn các biểu hiện hành vi đó đã không hề được chú ý. Giới lãnh đạo phương Tây tiếp tục ủng hộ bà Aung, giúp bà xây dựng một tính chính danh trong khi họ gây sức ép bắt chính quyền quân sự Myanmar phải tổ chức các cuộc bầu cử vốn được mong đợi rộng rãi là sẽ đưa bà Aung lên lãnh đạo đất nước. “Thiên kiến xác nhận mạnh mẽ đến nỗi làm chúng ta có thể bỏ qua những thông tin vốn mâu thuẫn với niềm tin sẵn có, mà bản thân chúng ta thì có thể không nhận ra rằng mình đang làm việc đó,” Lupton giải thích thêm. Một số chuyên gia khác cho rằng thiên kiến xác nhận thậm chí có thể dẫn đến một thứ thiên kiến chính trị còn quan trọng hơn: thiên kiến cho rằng một hệ thống chính trị sẽ có những đặc điểm, phẩm chất của người lãnh đạo hệ thống chính trị đó. Trong thực tế, điều ngược lại thường đúng hơn. Cùng với nhau, các thiên kiến nói trên khiến cho người ta dễ dàng đi đến kết luận rằng các cá nhân anh hùng có thể chiến thắng, giành quyền lực và thế là đủ để mang đến dân chủ và tự do. “Chúng ta luôn kiếm tìm một vị lãnh đạo nào mà chúng ta có thể tin tưởng sẽ đóng vai trò đối tác, vậy nên thường là chúng ta gần như là ‘bấm nút thông qua’ nhanh nhanh một ai đó để còn quay qua lo lắng cho những việc khác,” Elizabeth Saunders, một nhà khoa học chính trị trường Đại học George Washington chuyên nghiên cứu về chính sách ngoại giao Hoa Kỳ, bình luận. Cựu Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai tại Kabul năm 2016. Chính phủ Hoa Kỳ từng tôn xưng ông này như là vị lãnh đạo dân chủ thay thế chính quyền áp bức của Taliban. Ảnh: Adam Ferguson/The New York Times. Một hàng dài những kẻ cứu thế “hụt” Câu chuyện giản đơn về một vị lãnh tụ cứu nhân độ thế, người sẽ thay đổi cả một quốc gia, thường hiếm khi xảy ra trong thực tế. Chính phủ Mỹ từng tôn xưng nhà lãnh đạo người Afghanistan ông Hamid Karzai như là vị lãnh đạo dân chủ thay thế chính quyền áp bức của Taliban. Nhưng Washington đã phải thất vọng mà nhận ra rằng ông Karzai, thay vì vươn lên bứt mình ra khỏi tham nhũng và chủ nghĩa bè phái vốn tràn ngập đất nước Afghanistan, lại quay qua xây dựng cho mình một chế độ mang đầy những vấn nạn đó. “Nếu bạn tôn một vị lãnh đạo lên làm mẫu mực đạo đức, bạn lại có thể đang giúp người lãnh đạo đó củng cố quyền lực, và việc đó có đủ thứ kết quả không mong đợi,” bà Saunders phân tích. Tại Rwanda, Tổng thống Paul Kagame đã được suy tôn là vị cứu tinh của đất nước khi ông này thắng cử, với sự ủng hộ từ phương Tây, sau thảm họa diệt chủng tại nước này năm 1994. Thế nhưng, tuy có thành công trong việc giảm thiểu đói nghèo, Kagame đã thể hiện rằng ông ta là một nhà lãnh đạo chuyên chế. Các chính trị gia đối lập thường bị bỏ tù, phải trốn ra nước ngoài, hoặc bị giết hại. Human Rights Watch đã có nhiều báo cáo về tình trạng dùng quân đội để bắt giam và tra tấn dân thường tại Rwanda. Và chắc có người vẫn nhớ rằng nhiều người đã dễ dàng ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc Sudan như thế nào, khi phong trào đó vẫn là một phong trào nổi loạn chống lại nhà lãnh tụ độc tài Omar Hassan al-Bashir, người đang bị kết án diệt chủng tại Darfur. Tuy nhiên, sau khi các sỹ quan của phong trào này cùng các đồng minh của họ lên nắm quyền tại đất nước Nam Sudan độc lập mới ra đời, những vị lãnh đạo đó lại đang khiến cho cả đất nước chìm vào nội chiến. Không chỉ có giới lãnh đạo phương Tây mới hay có những phán đoán sai lầm như thế. Vào những năm 1960 và 1970, giới hoạt động nhân quyền toàn thế giới từng ca ngợi về sự vươn lên của những lãnh đạo đòi giành độc lập chủ quyền như Robert Mugabe của Zimbabwe. Nhiều vị lãnh đạo đó sau này trở thành những kẻ độc tài. Có các trường hợp ngoại lệ, như Nelson Mandela, vị tổng thống hậu-Apartheid đầu tiên của Nam Phi. Nhưng, những người như Mandela không nhiều, và thành công của những người đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác bỗng nhiên tác động. Đến giờ nhiều người trong số họ vẫn còn ngạc nhiên về những yếu tố được xem là bí ẩn thần kỳ đó. Ngay cả một số nhà hoạt động vốn đang mất tinh thần tại Myanmar cũng ngạc nhiên như vậy. Bà Aung San Suu Kyi tại Nhà Trắng năm 2016. Ảnh: Al Drago/The New York Times. “Đặc tính của một nhà độc tài” Bà Aung San Suu Kyi không phải là ông Kagame hay ông Mugabe, nhưng chỉ khoảng gần 20 tháng cầm quyền của bà đã cho thấy dấu hiệu một vài đặc điểm tính cách độc tài. Vừa giành được quyền lực, bà Aung nhanh chóng đẩy ra rìa các nhà hoạt động và các nhóm dân sự đã giúp đỡ bà giành được quyền lực. “Bà ta chỉ lắng nghe những ai thân cận với mình,” U (ông/bác – tiếng Myanmar) Yan Myo Thein, một nhà hoạt động của nhóm đấu tranh dân chủ 88 Generation, và là một cựu tù chính trị, cho rằng nhóm người thân cận với bà Aung cư xử như một “đám cuồng cá nhân chủ nghĩa”. “Đó là một đặc tính độc tài,” ông ta nói. Trong giai đoạn thế giới còn đang bận tung hô bà Aung, một số người tại Myanmar đã nhìn thấy một số dấu hiệu ngày càng rõ rệt cho thấy bà ta đang củng cố quyền lực và áp chế những ai có ý kiến phê bình. “Cho dù họ tự xưng rằng mình là biểu tượng của dân chủ, họ lại muốn tập trung hóa và quản lý mọi thứ,” Kyaw Thu, người lãnh đạo một nhóm dân sự có ảnh hưởng là Paung-Ku, nói về chính quyền dân cử đang nắm quyền tại Myanmar. “Những ai không ủng hộ nghị trình của họ thì bị xem là kẻ thù.” Anh nói thêm. Hàng tá người Myanmar đã bị kết tội dưới một điều luật có mục đích giới hạn các phê phán nhằm vào chính phủ, một tình trạng làm người ta nhớ lại thời kỳ giới quân sự độc tài bỏ tù các nhà bất đồng chính kiến. Aaron Connelly, một nhà phân tích chính trị của Viện Lowry tại Sydney (Úc) nhận định rằng các chính sách áp bức này “là đặc trưng cho cách cầm quyền của đảng Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (N.L.D.) tại Myanmar.” Đảng đó chính là đảng chính trị của bà Aung San Suu Kyi. Ngay khi chưa nói gì đến quan điểm của bà Aung về người Rohingya, thì bà ta đã “vẫn chưa hề cư xử thực thụ như một nhà lãnh đạo có tư tưởng tự do.” Connelly nhận xét. Một cuộc biểu tình trong tháng qua tại Yangon nhằm ủng hộ chính sách của bà Aung San Suu Kyi đối với khủng hoảng người thiểu số Rohingya. Ảnh: Adam Dean/The New York Times. Bài học lớn cho mọi người? Trong khi giới làm chính sách có thâm niên hoạt động lâu năm có vẻ vẫn đang tự tin với những thói quen của mình, thì giới trẻ hơn đã bắt đầu đặt câu hỏi về việc: liệu có phải là cộng đồng thế giới, sau quá nhiều thất vọng, đáng ra đã phải học được một bài học nào đó? “Kịch bản này lập đi lập lại quá nhiều để có thể bỏ qua,” Tim Hirschel-Burns, một nhân viên Peace Corps tại Benin, viết trên blog cá nhân của mình. Có lẽ là, mô hình hiện có của việc cải tạo một quốc gia đang gặp khó khăn, bằng cách lắp vào quốc gia đó một vị lãnh đạo có triển vọng nào đó, là một mô hình ngược ngạo, Hirschel-Burns tranh luận. Có lẽ rằng thay đổi chỉ có thể đến khi nó diễn ra từ dưới lên trên, cho dù cách thay đổi này khó khăn, bề bộn và cần nhiều thời gian hơn. “Người dân tại những nước đó, cũng như chúng ta, phần nhiều là sản phẩm từ môi trường của họ.” Hirschel-Burns viết. Đối xử với bà Aung San Suu Kyi như thể bà ta không dính dáng gì đến những vấn đề sẵn có của Myanmar khiến cho thế giới nhìn nhận bà ta như “một con người đạo đức cao thượng và dũng cảm hơn chính cái lực lượng chính trị mà bà ta đại diện,” Hirschel-Burns phân tích thêm. Ngay cả những lãnh đạo thường nói những điều đúng đắn và thể hiện những ý định tốt đẹp thường cuối cùng vẫn phản ánh những hệ thống mà họ sinh trưởng cùng. Nếu bản thân những hệ thống đó vẫn còn hư hỏng, thì tuy có thể công bằng khi phê phán các sai sót cá nhân của những vị lãnh đạo các hệ thống đó, việc mong đợi các vị lãnh đạo đó vượt lên trên chính hệ thống của họ lại là một việc làm không thực tế. Nói đi thì cũng nói lại, có thể là bà Aung San Suu Kyi đang xây dựng một phiên bản chính quyền dân chủ theo đúng đường lối mà nhiều công dân Myanmar mong muốn. Một khảo sát năm 2015 của Asia Barometer cho thấy phần lớn người được khảo sát tại Myanmar có quan điểm chống đối các hình thức kiểm soát nhánh hành pháp của đất nước. Nhiều người Myanmar tin rằng giới lãnh đạo tôn giáo nên có vai trò trong việc làm luật và quyền công dân nên được gắn liền với tôn giáo. Ủng hộ giành cho một nhà cầm quyền mạnh tay khá cao, trong khi ủng hộ cho quyền của người thiểu số thì lại thấp. Mời xem Video: Chính trường biến động mạnh: Mỹ cảnh báo Công an Quân đội VN có dấu hiệu vượt khỏi sự kiểm soát? “Người dân mong muốn dân chủ theo nghĩa là họ mong muốn không còn tình trạng độc tài, và lãnh đạo phải là người được dân chúng bầu chọn,” Thant Myint-U, một nhà sử học và cựu quan chức Liên Hợp Quốc, phân tích. “Nhưng mong muốn đó thì rất khác với việc chấp nhận cả một lô một lốc các giá trị tự do, đặc biệt khi các giá trị đó có liên quan đến các vấn đề như màu da, chủng tộc, hay bình đẳng giới.” Rất đáng đặt câu hỏi rằng có bao nhiêu phần trong nỗi giận dữ mà phương Tây đang dành cho bà Aung San Suu Kyi, thể hiện qua các hành vi bao gồm việc kêu gọi tước giải Nobel Hòa Bình của bà này, có nguyên nhân sâu xa từ một mặc cảm hối hận của những người đã từng ủng hộ bà Aung, vốn nay đang cảm thấy tội lỗi vì đã có góp phần giúp bà ta giành được quyền lực. Andrew Selth, một giáo sư của Viện Griffith Asia, viết trong một bài gần đây, “Nếu có một nỗi thất vọng lớn về Suu Kyi thì nỗi thất vọng đó chỉ là vì cộng đồng thế giới đã tâng bà ta lên quá cao mà thôi.” Amanda Taub viết từ Washington, và Max Fisher viết từ Yangon, Myanmar. Wai Moe cũng đóng góp cho bài báo này từ Yangon. Trâm Huyền lược dịch từ bài “Did the World Get Aung San Suu Kyi Wrong?” của Mục The Interpreter đăng trên bản điện tử báo The New York Times ngày 31/10/2017. Cách dòng của người dịch. (Luật Khoa)
  12. Mới đây, Jake Van Der Kamp, người phụ trách chuyên mục trong tờ báo South China Morning, có bài viết về nạn tham nhũng dưới các chế độ xã hội chủ nghĩa, nhà quan sát phân tích Piotr Tsvetov của Sputnik viết. Song, ông gọi các chế độ này đều là "nền kinh tế chỉ huy". Nguyên nhân dẫn đến những suy luận về nội dung này là thông tin về việc sa thải và bắt giữ những quan chức cấp cao Trung Quốc bị buộc tội tham nhũng. Ông Jake Van Der Kamp ngạc nhiên trước phản ứng của nhiều người dân Trung Quốc bình thường vì có vẻ như tất cả họ đều tin rằng "chuyên chính vô sản tạo ra khả năng miễn dịch với nạn trộm cắp". Còn tác giả bài báo tin chắc rằng, nạn tham nhũng là bộ xương của nền kinh tế chỉ huy, "giống như bột là thành phần chính của món mì". Theo tôi, chính Jake Van Der Kamp đưa thông tin sai lệch với độc giả để bôi nhọ hệ thống chính trị và kinh tế hiện tại của Trung Quốc. Trên thực tế, nếu nói về các phương pháp chỉ huy và chuyên chính vô sản, thì chính trong điều kiện này đã làm giảm bớt và kiềm chế tham nhũng ở mức độ cao nhất. Ở đây có thể nhắc nhở về thời kỳ Xô viết, khi đó đứng đầu Liên Xô là nhà lãnh đạo độc đoán Iosif Stalin có bản tính cứng rắn. Nhiều người Nga cho rằng, cuối thời kỳ cầm quyền của Stalin, tham nhũng hầu như biến mất. Và dưới thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc là quốc gia ít tham nhũng. Ở Nga tham nhũng bắt đầu phổ biến nhanh chóng sau khi Gorbachev áp dụng một số yếu tố nhất định của kinh tế thị trường, khuyến khích kinh doanh tư nhân và những hợp đồng hợp tác kinh doanh. Số doanh nhân giàu có ngày càng nhiều. Còn các quan chức kiểm soát tình hình trong nền kinh tế đã có thu nhập thấp hơn, nhưng muốn nhận được nhiều hơn. Các doanh nhân bắt đầu mang hối lộ đến họ để nhận bất cứ giấy phép nào. Dần dần, toàn bộ dân chúng Nga đã quen với ý kiến rằng, ăn hối lộ là điều bình thường. Ngày nay, cả Trung Quốc và Việt Nam đều phát triển tích cực không chỉ riêng nền kinh tế quốc dân mà còn cả kinh tế tư bản tư nhân. Và các nhà tư bản có phương pháp làm việc riêng, đạo đức riêng. Để có được số lợi nhuận càng nhiều càng tốt, họ sẵn sàng thực hiện bất kỳ hành vi phạm tội, bao gồm hối lộ quan chức có quyền lực trong nhà nước tập quyền. Trước đây, các quan chức cộng sản đã có tinh thần đạo đức khác: tất cả vì lợi ích của nhân dân, mức lương của họ không vượt quá mức lương của công nhân lành nghề. Dưới thời Liên Xô, các bộ trưởng và ủy viên Bộ Chính trị không sở hữu bất động sản, các căn nhà ở vùng ngoại ô và căn hộ của họ thuộc sở hữu của nhà nước, và không sánh được với những biệt thự sang trọng của các quan chức cấp cao tại Liên bang Nga. Ví dụ, Bộ trưởng Nga Ulyukayev, người vừa bị bắt vì nhận hối lộ, sở hữu 15 căn hộ và biệt thự ở vùng ngoại ô. Mời xem Video: Châu Thị Thu Nga mua ghế ĐBQH 30 tỷ: Vợ chồng Nông Đức Mạnh và Đỗ Thị Huyền Tâm có vai trò gì? Vào những năm 1970, các quan chức cấp cao ở Việt Nam cũng sống khá giản dị. Có một lần tôi đã thấy ông Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, dùng xe công, nhưng đó là xe mác Zhiguli màu vàng, mà người Nga gọi là "đồng xu". Nhiều tác giả Việt Nam thừa nhận rằng, ở Việt Nam tham nhũng bắt đầu phổ biến rộng rãi sau khi đất nước chuyển sang kinh tế thị trường. Mặc dù tham nhũng có mặt dưới cả chế độ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa (còn được gọi là xã hội công nghiệp), tôi cho rằng, chính quyền cộng sản có nhiều cơ hội hơn để vượt qua nó. Những người cộng sản có tinh thần đạo đức khác — họ chống lại tính vụ lợi, vì công bằng xã hội và sự bình đẳng. Xin nhắc rằng, dưới thời Stalin đã tuyển chọn cẩn thận những người được giao chức Bộ trưởng, trên cơ sở phẩm chất đạo đức và khả năng của người ấy, còn hối lộ hoặc thông qua quan hệ gia đình, quen biết thì không giúp được gì. Piotr Tsvetov (Sputniknews)
  13. Cái ôm thân mật đầy tình hữu nghị giữa Thủ tướng Hun Sen và Tướng Prayut Chan-o-cha, người đang đứng đầu chính quyền quân đội Thailand – vào đầu tháng Chín ở Phnom Penh, chính là hình ảnh đại diện cho tình hình chính trị tại Đông Nam Á hiện nay. Các thể chế chuyên chế (authoritarian regime) đang trỗi dậy khắp khu vực, và chẳng chút e dè, sẵn sàng thách thức các giá trị nhân quyền và dân chủ. Thủ tướng Hun Sen của Cambodia. Ảnh: RFA Trong đó, Cambodia là nhà nước chuyên chế nhất, và Thailand thì theo bén gót. Cambodia: từ quá trình hoàn thiện dân chủ quay ngược về chế độ chuyên chế Đã từng có một thời gian, Cambodia đã đưa ra vài tín hiệu đầy hứa hẹn là đất nước này đang chuyển mình sang thể chế dân chủ. Một cuộc tổng tuyển cử được Liên Hiệp Quốc tổ chức và giám sát năm 1993 tưởng như đã thay đổi Cambodia. Mặc dù chính trường nước này cũng khá ba chìm bảy nổi từ đó cho đến nay, nhưng nhìn bề ngoài thì tình hình trông khá ổn. Khi mà một cơ chế cử tri đoàn tương đối chính danh và những chiêu bài dân chủ chống lưng cho nó. Nhưng bất kể là cơ chế chính trị ở Cambodia đã tiến được bao nhiêu bước trong vòng hai thập niên qua, mọi thứ hiện nay đều bị chặn đứng và đảo ngược hoàn toàn. Một người dân treo bảng cổ xúy dân chủ hoá ở Cambodia năm 1998. Ảnh: Jerry Redfern. Hun Sen, nhà lãnh đạo mạnh mẽ được dân chúng bầu lên năm nào, giờ đây đã thẳng thừng xé toạc lớp mặt nạ của cái gọi là một nền chính trị tự do và công bằng tại Cambodia. Ông ta vừa bỏ tù lãnh đạo lực lượng đối lập – Kem Sokha – của Đảng Cambodia National Rescue Party – CNRP (Đảng Cứu nguy Dân tộc) với tội “phản quốc” – vì một bài diễn văn cổ xúy dân chủ mà Kem Sokha đã diễn thuyết ở Melbourne mãi từ năm 2013. Sau khi bị bắt giam, không một người nào thuộc đảng CNRP được gặp mặt Sokha. Ngoài ra, Hun Sen như là phát rồ lên khi ra lệnh đóng cửa hàng loạt các đài phát thanh hay lên tiếng chỉ trích chính quyền, đuổi cổ đại diện tổ chức phi chính phủ National Democratic Institute của Hoa Kỳ trong thời gian gần đây. Ông ta còn dồn tờ Cambodia Daily vào chân tường, khi tuyên bố tờ báo này thiếu chính phủ gần 6.3 triệu đô la tiền thuế, khiến cho nó phải đóng cửa sau 24 năm hoạt động. Trong qua khứ, những nhân vật lãnh đạo đảng phái chính trị đối lập thì thường xuyên bị sách nhiễu, kể cả bị đánh đập. Qua những hành động này, Hun Sen đã thẳng thừng tuyên bố: không cần biết điều gì sẽ xảy ra, ông ta vĩnh viễn là thủ tướng Cambodia. Cách hành xử côn đồ của Hun Sen có thể sánh cùng lãnh đạo Bắc Hàn, Kim Jong-un. Điểm khác biệt giữa hai người đó là Hun Sen được Trung Quốc hậu thuẫn và cả khối ASEAN thì ngầm đồng tình trong im lặng. Nếu nhìn vào bối cảnh cuộc bầu cử năm tới ở Cambodia, người đang nắm thế thuợng phong tại các khu vực cử tri hiện nay chính là Kem Sokha và đảng CNRP. Trong cuộc bầu cử địa phương vào tháng 6/2017, đảng CPP nhận được 50% số phiếu bầu phổ thông (popular vote), còn CNRP nhận được 44%. Đó là một kết quả cực tốt cho đảng CNRP, một đảng chính trị chỉ vừa được thành lập năm năm trước. Cũng từ chính kết quả này mà Hun Sen bắt buộc phải chú ý đến tình cảnh ngặt nghèo cho tương lai chính trị của cả bản thân lẫn đảng CPP. Rất có thể ông ta sẽ bị loại khỏi cuộc chơi khi tổng tuyển cử được tiến hành vào năm tới, 2018. Và mặc dù là lãnh đạo của họ đang ngồi tù, CNRP vẫn không nhượng bộ, cũng như tỏ vẻ rất kiên định. Tuy vậy, một lãnh đạo cao cấp của CNRP gần đây đã thừa nhận một sự thật khiến người ta phải “lạnh người”. Tại một buổi hội thảo dành cho giới học giả, các nhà hoạt động và những đại biểu Quốc hội, vị này đã cho biết, trách nhiệm của đảng CNRP là phải bảo đảm “tính mạng” cho các đảng viên của họ. Phát biểu trên bắt buộc chúng ta phải ôm lòng hoài nghi về tính chính danh của cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/2018. Lãnh đạo đảng đối lập – Kem Sokha – bị bắt giữ đầu tháng 9/2017. Ảnh: Agence France-Presse — Getty Images. Dân chủ hóa ở ASEAN đã bị các nhà nước chuyên chế “vượt mặt” Cuộc chạy đua điên cuồng của Hun Sen để trở thành nhân vật lãnh đạo chuyên chế số một ở Đông Nam Á dự báo một tương lai mờ mịt cho việc thực thi nhân quyền và chuyển đổi dân chủ trong khu vực. Ông ta đã khiến cho những lãnh đạo chuyên chế khác – như Tướng Prayut – nhìn yếu ớt hơn rất nhiều. Tổng thống Duterte của Philippines cũng chỉ dám sử dụng quyền đề xuất chi tiêu ngân sách và các thủ tục lập pháp để “bỏ đói” Ủy ban Nhân quyền và không cấp ngân sách cho họ (tuy rằng ông này phải chịu trách nhiệm cho hàng nghìn cái chết của thường dân và các vụ vi phạm quyền con người trong cuộc chiến với chất gây nghiện). Không quá lâu trước đây, các nhà nước ở ASEAN có thể được tạm chia làm ba nhóm. Những nước đang trong tiến trình hoàn thiện nền dân chủ là Indonesia, Philippines, và Myanmar. Những nước nằm trong nhóm dân chủ thoái trào là Thailand, Malaysia, và Cambodia. Ba quốc gia nhất quyết không chuyển đổi dân chủ gồm có: nhà nước quân chủ ở Brunei, cùng Laos và Việt Nam – là hai nước vẫn tiếp tục uốn mình trong mô hình toàn trị của đảng cộng sản. Singapore là một trường hợp ngoại lệ khi là một nước độc đảng, nhưng vẫn tiến hành thủ tục bầu cử tự do. Tổng thống Rodrigo Duterte người được nhân dân xem là chính trị gia “nói là làm” ở Philippines. Ảnh: AP Photo/Eugene Hoshiko. Tuy nhiên, phép toán này hiện nay đã bị phân chia lại, và dân chủ đã bị các chính quyền chuyên chế vượt mặt. Cambodia và Philippines giờ đây đã vững bước trên con đường quay về mô hình nhà nước chuyên chế. Thailand thì vẫn do các thế lực quân đội cai trị sau lần đảo chánh ba năm về trước. Myanmar thì đang đắm chìm trong cuộc khủng hoảng người Rohingya ở bang Rakhine. Có lẽ chỉ còn Indonesia là họa may vẫn cầm cự nổi cho một nền dân chủ. Có tương lai nào cho dân chủ hóa ở khu vực Đông Nam Á hay không? Lối thoát cho dân chủ hóa ở Đông Nam Á có thể phải bắt đầu từ Indonesia, nếu nước này đồng ý lên tiếng ủng hộ một xã hội minh bạch, tôn trọng các quyền căn bản và các quyền tự do của người dân. Điều này sẽ mang đến một chút hung hiểm cho Indonesia, nhưng đó cũng là cơ hội cho quốc gia này có được vị trí lãnh đạo trong khu vực. Liệu Tổng thốnng Joko Widodo và Indonesia có thể cứu nguy cho dân chủ ĐNA? Ảnh: Darren Whiteside—Reuters Cộng đồng quốc tế thì cần phải tiếp tục lên tiếng về tình hình tại đây, đặc biệt là Liên minh Châu Âu (European Union) và cả Hoa Kỳ nữa. Cho dù giờ đây, nếu muốn vẫn được xem là thành lũy cuối cùng của nền dân chủ toàn cầu, thì Mỹ cần phải bắt đầu hành xử cho đúng với vị trí đó – trước khi họ lại có được sự nể trọng của khối ASEAN. Mời xem Video: Hội nghị Trung ương 6: Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh sẽ được Đảng CSVN quyết định thế nào? Chúng ta cũng cần nói rõ với Trung Quốc rằng, ủng hộ một nhà cai trị chuyên chế như Hun Sen chỉ khiến cho hình ảnh chính quyền Bejing ngày càng trở nên tồi tệ hơn trên thế giới. Muốn trở thành một “đại ca” siêu cường quốc toàn cầu, thì Trung Quốc không thể tiếp tục bảo kê cho những hành vi côn đồ như kiểu Hun Sen. Trung Quốc có thể khống chế Cambodia dễ dàng hơn Bắc Hàn rất nhiều, và họ cần phải làm điều này để chứng minh rằng, họ tôn trọng và có thiện ý đối với những người bị bức hại tại đây. Cuối cùng, các loại chính quyền như kiểu của Hun Sen cần biết, một khi họ đàn áp quá mức người dân thì chính họ đang biến nhân dân thành một lực lượng quá khích. Nếu như người dân cứ bị đàn áp một cách có hệ thống trong một xã hội – nơi mà họ không thể có hy vọng gì chấm dứt được nỗi thống khổ đó – thì họ không còn chọn lựa nào khác mà bắt buộc phải đứng lên chống lại kẻ cầm quyền. Vì chỉ như thế, người dân mới có thể lấy lại tiếng nói trong xã hội và giành lại những quyền căn bản của mình. Thitinan Pongsudhirak * Tác giả Thitinan Pongsudhirak là Giáo sư Khoa học Chính trị, và đồng thời là Chủ nhiệm Học viện nghiên cứu An ninh Quốc tế tại Đại học Chulalongkorn, Thailand. Quỳnh Vi lược dịch từ Cambodia leads regional authoritarianism đăng trên báo Bangkok Post ngày 22/9/2017. Tiêu đề và tít phụ do Luật Khoa tạp chí đặt. (Luật Khoa)
  14. Sự khác nhau trong thái độ và quan niệm về dân chủ đã tồn tại từ hàng ngàn năm nay. Khái niệm dân chủ, như nhiều người quan niệm, dường như là một sản phẩm của văn minh phương Tây, đúng hơn là văn minh Hy Lạp. Khi nói về những thể chế chính trị, khái niệm này được đặt đối lập với khái niệm quân chủ, tức là sự đối lập một hình thức quyền lực nhà nước, trong đó quyền lực thuộc về tất cả mọi công dân và một hình thức khác, trong đó quyền lực thuộc về một cá nhân. Tuy nhiên, trong cuộc sống xã hội, khái niệm dân chủ đường như đều được hiểu như là một phương thức quan hệ giữa các cá nhân, trong đó các quyền và nghĩa vụ của các cá nhân được tôn trọng tuyệt đối Các nước phương Tây có xu hướng tuyệt đối hoá các tiêu chuẩn của dân chủ do họ đưa ra, còn các nước phương Đông thì có xu hướng đưa ra một quan niệm khác. Nói về nhà nước tư sản, Lenin nhận định rằng đó là nhà nước của số ít, nhằm bảo vệ lợi ích của số ít những kẻ bóc lột. Lenin cũng nói rằng nhà nước chuyên chính vô sản là nhà nước của nhân dân lao động, tức là của số đông, bảo vệ quyền lợi của số đông. Ông khẳng định rằng chính vì thế mà “dân chủ vô sản một triệu lần dân chủ hơn dân chủ tư sản”. Nhận định của Lenin dựa trên những phân tích của ông đối với chủ nghĩa tư bản đương thời. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy là nếu như quả thật bản chất của nhà nước vô sản thuộc về số đông, phản ánh những nguyện vọng của số đông, nó đồng thời cũng là loại nhà nước dễ bị đánh cắp quyền lực nhất. Đó là kiểu nhà nước thiếu những nguyên lý kiểm soát chặt chẽ cần thiết. Tuy nhiên, tất cả các hình thức dân chủ đó, cho dù có những hình thức chống đối nhau, lại đều dựa trên những quan niệm và tiêu chuẩn rõ ràng. Những đặc điểm và tiêu chuẩn đó có thể quy về những điểm mấu chốt sau đây: – Tiêu chuẩn chính trị: Bầu cử tự do và công bằng, quản lý nhà nước bằng ý chí của mọi công dân. – Tiêu chuẩn văn hoá – xã hội: Sự ý thức và khả năng thực tế của các công dân về quyền hạn và nghĩa vụ của mình. Còn ở phương Đông có dân chủ không? Và nếu có, thì có hay không cái gọi là hình thức đặc thù của dân chủ phương Đông? Theo chúng tôi, do tính chất nửa vời về quan niệm sở hữu, sự phân hoá giai cấp trong xã hội phương Đông không sâu sắc như ở phương Tây. Chính vì thế, hình thức dân chủ sơ khai xuất hiện ở phương Đông sớm hơn, nhưng lại tồn tại được dạng sơ khai lâu hơn. Những đặc điểm đó của xã hội phương Đông khiến cho nhiều người đặt ra câu hỏi về một hình thức riêng biệt của dân chủ ở phương Đông. Dân chủ phương Đông có phải là dân chủ không? Câu trả lời khẳng định có vẻ như là tất yếu. Thế nhưng vấn đề không đơn giản như thế. Vấn đề là sẽ rất không thích hợp nếu đem những thước đo của phương Tây vào áp đụng với những điều kiện của châu Á hiện nay. Có một thực tế rất hài hước là trong khi các nước phương Tây ra sức đấu tranh để “bảo vệ” những quyền lợi của dân chúng Trung Quốc hay ở Malaysia thì trên thực tế dân chúng ở đó lại không hề cảm thấy cần thiết những quyền đó, hay thậm chí còn khó chịu. Một ví dụ là vấn đề quyền trẻ em. Có thể ở Hoa Kỳ trẻ em có thể kiện bố ra toà nhưng có lẽ ở châu Á đó chỉ có thể là một hành độngphi đạo đức. Có một thực tế là trong mấy thập kỷ qua, những nước có nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở châu Á (và cũng là của thế giới) phần lớn đều là những nước bị phương Tây chỉ trích là độc tài, phi dân chủ. Ngay ở trong mỗi nước, nhiều khi cũng thấy rằng các chính phủ “độc tài” dường như lại có ích cho đất nước hơn là những chính phủ dân chủ. Một ví dụ là chính phủ độc tài Pak Chong Hui đã đem đến cho Hàn Quốc nhiều lợi ích hơn hẳn so với những chính phủ dân chủ trước ông, đặc biệt chính phủ của Syngman Rhee. Kết luận này có thể được hỗ trợ bởi Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, và Pinochet ở Chile. Đưa ra những nhận xét trên đây không phải chúng tôi nhằm mục đích bào chữa cho các chế độ độc tài, mà để thấy rằng không nên vội vã quy kết một chế độ hoặc một xã hội, cũng không thể hoàn những quá trình kinh tế với chế độ chính trị một cách giản đơn. Trái lại, cần phải nhìn nhận dân chủ như một khái niệm hết sức tương đối có tính chất lịch sử và gắn liền với truyền thống văn hoá. Trên thực tế, nói đến phương Đông là nói đến một thế giới cực kỳ đa dạng cả về văn hoá, chế độ chính trị, tôn giáo, đến dân tộc và trình độ phát triển kinh tế. Ba tỷ dân đang sống ở khu vực này. Ở đây có những quốc gia lâu đời như Trung Quốc, Ấn Độ và những quốc gia rất trẻ như Singapore; những nước cộng sản như Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới như Nhật Bản, những nước quân phiệt như Miến Điện; những nước giàu như Nhật Bản và những nước nghèo như Việt Nam, Campuchia và Miến Điện; những nước cực lớn như Trung Quốc với hơn một tỷ dân với những nước bé nhỏ như Bruney chi vẻn vẹn 300 000 dân; cả đạo Phật, đạo Hồi và đạo Thiên Chúa đều có mặt tại đây. Sự khác nhau lớn đến nỗi thật khó mà có thể tìm ra một sự đồng nhất cho cái gọi là “Cộng đồng châu Á”. Sự khác nhau còn được tăng thêm bởi những mâu thuẫn và cả những đụng độ về tôn giáo, sắc tộc, kinh tế, lãnh thổ và ý thức hệ. Tuy thế, theo chúng tôi, có thể tìm ra những điểm chúng, nhưng hoàn toàn không phải là trong những lĩnh vực mà chúng ta vừa mới điểm qua. Đó là: 1, Trình độ dân trí: Mặc dù châu Á từng là nơi có nền văn minh phát triển cao nhất thế giới trong phần lớn lịch sử nhân loại, nó đã bị thụt lùi nghiêm trọng trong vòng vài thế kỷ gần đây. Khi nói đến dân trí, chúng tôi không chỉ đề cập, đúng hơn là không nhấn mạnh đến trình độ học vấn của dân chúng, mà chủ yếu là nói đến trình độ giác ngộ của dân chúng về những quyền của họ. Thực vậy, do sự bưng bít của các nhà nước, do sự dốt nát của quần chúng và nhất là do những khó khăn triền miên về kinh tế khiến cho người dân luôn luôn luẩn quẩn qua nhiều thế hệ với những mục đích kiếm sống nhỏ nhặt của mình, đến nỗi chưa bao giờ họ có điều kiện để ý thức về những quyền lợi của mình. Trong khi đó, tôn giáo đã góp phần củng cố tình trạng tối tăm này. Đó là chưa nói đến một số nhà cầm quyền trong lịch sử đã cố tình kẻo đài tình trạng ngu dân để giữ vững địa vị của mình. 2, Truyền thông sở hữu: ở trên chúng tôi đã nói đến vấn đề sở hữu và cái gọi là “phương thức sản xuất châu Á”. Cho đến gần đây, tại các quốc gia nông nghiệp này, ruộng đất vẫn thuộc về sở hữu của nhà nước. Chính cơ sở kinh tế này đã đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của chủ nghĩa phong kiến châu Á. Đó cũng chính là lý do khiến cho Chủ nghĩa Cộng sản được tiếp nhận tương đối dễ dàng. 3, Chủ nghĩa gia trưởng: Truyền thống gia trưởng ăn sâu vào tâm thức xã hội đến mức nó trở thành quy tắc ứng xử được chấp nhận như một lẽ đương nhiên. Chính chủ nghĩa gia trưởng hỗ trợ cho nguyên tắc đề cao những người đứng đầu cộng đồng. Vì thế, dân chúng ở châu Á có thể chấp nhận tương đối dễ dàng những chế độ độc quyền. Cuộc khủng hoảng tiền tệ làm điêu đứng những nền kinh tế mạnh nhất khu vực châu Á cuối năm 1997 buộc người ta phải nhìn nhận lại cái gọi là “những giá trị châu Á”. Nhiều năm qua, sự thành công cũng như sự đổ vỡ của các nước châu Á đều dựa trên một cơ sở xã hội quan trọng: Quyền kiểm soát hoàn toàn đời sống kinh tế và xã hội của các lãnh tụ chính trị được sự chấp nhận của dân chúng, những người hài lòng với những tiến bộ kinh tế và để đàng bỏ qua khía cạnh dân chủ của đời trong xã hội. Thực chất của sự quản lý xã hội kiều này là sự liên kết giữa các doanh nghiệp và chính phủ, điều có thể được chấp nhận gần như vô điều kiện đó những truyền thống của một xã hội gia trưởng và ở vài nước có cả vai trò của Khổng Giáo với tư cách là nền tảng tư tưởng. Ở một vài nước như Đài Loan và Hàn Quốc, ngay trong thời kỳ họ làm nên sự thần kỳ kinh tế, đã từng nội trị chế độ gia đình trị. Ở Indonesia và Malaysia, quyền lực của tổng thống Suharto và thủ tướng Mahathir Mohammad gần như là bất khả xâm phạm và đảm bảo cho những mối liên hệ của kinh tế với chính trị trở nên bền vững. Ở Trung Quốc và Việt Nam, mọi chính sách quản lý kinh tế, chính trị, xã hội đều do Đảng Cộng Sản quyết định. Thế nhưng thực tế đã có vẻ có những đổi thay. Nhật Bản từ lâu đã trở thành một xã hội kiểu phương Tây và cái gọi là “truyền thống tin cậy” vẫn đóng vai trò nền tảng của công ty Nhật đang dần dần có xu hướng bị thay thế bởi các nguyên tắc trách nhiệm và phục tùng theo kiểu phương Tây. Hàn Quốc và Đài Loan mới đây đã tiến những bước dài cũng theo hướng đó. Ở Thái Lan, lndonesia và Malaysia đang diễn ra những tình hình mới. Những Cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra ở hàng loạt nước châu Á có nguyên nhân trực tiếp là sự mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế, tình trạng nợ nần, sự lãng phí và tham nhũng, nhưng nguyên nhân sâu xa là sự bành trướng và lũng loạn của quyền lực chính trị vào các hoạt động kinh tế. Sự lũng loạn này tạo điều kiện cho tệ bè phái, gia đình trị phát triển, vô hiệu hoá hoạt động của ngân hàng và của công tác hoạch định chiến lược kinh tế. Mời xem Video: Hội nghị Trung ương 6 ngày thứ 4: Đề cử nhân sự thay thế Chủ tịch Nước Trần Đại Quang? Chúng ta có thể nói một điều chắc chắn: châu Á có nhiều điều phải thay đổi. Và phương hướng không thể khác hơn là tách riêng quyền lực nhà nước khỏi các hoạt động kinh tế, xoá bỏ chủ nghĩa bè phái trong điều hành xã hội và chống tham nhũng. Và điều này không hề làm giảm quyền lực nhà nước mà trái lại, càng làm cho nhà nước độc lập hơn, thoát khỏi sự chi phối của đồng tiền. Chúng ta cũng có thể khẳng định: bất chấp những khác biệt về trình độ phát triển và những khác biệt về văn hoá, dân chủ có những tiêu chuẩn và giá trị mang tính phổ quát. Bản chất của dân chủ dù ở phương Đông hay phương Tây đều là sự tôn trọng các quyền của cá nhân, là sự nhận thức được các quyền ấy của cá nhân và cấu trúc nó thành ra các quyền pháp định. Nguyễn Trần Bạt Nguồn: diendankienthuc.net (Nghiên Cứu Lịch Sử)
  15. Những cuộc trấn áp và bắt bớ lãnh đạo đảng chính trị đối lập, cùng việc đóng cửa các tờ báo và cơ quan truyền thông độc lập, đã xảy ra dồn dập trong vòng một tháng qua ở Cambodia. Những sự kiện này đã khiến cho nhiều người tuyệt vọng về nền dân chủ tại đây. Họ cho rằng nó đang chết dần chết mòn trong bàn tay đàn áp của đảng cầm quyền. Mọi việc dường như bắt đầu trở nên rất tồi tệ gần một năm trước, khi vị cựu chủ tịch phe đối lập – Đảng Cứu nguy Dân tộc Cambodia (Cambodia National Rescue Party – gọi tắt là CNRP) – đã chính thức bị trục xuất khỏi đất nước. Đến đầu tháng 9 năm nay, lãnh đạo đương nhiệm của CNRP, Kem Sokha, đã bị chính quyền Hun Sen bắt giữ tại gia với cáo buộc phản quốc. Kem Sokha, lãnh đạo đảng đối lập bị bắt vào tháng 9/2017. Ảnh: NY Times. Một ngày sau khi bắt giữ Sokha, thì tờ báo độc lập The Cambodia Daily cũng bị đóng cửa vì cáo buộc biển thủ thuế vô căn cứ. Và vì thế, có lẽ là cũng có lý cho người ta cảm thán về cái chết đang được dự đoán trước của nền dân chủ Cambodia. Thế nhưng, nếu tìm hiểu sâu hơn, thì ta phải đặt lại câu hỏi, là liệu ở Cambodia đã bao giờ tồn tại một nền dân chủ thực thụ hay chưa? Nền dân chủ ở Cambodia đã được thiết lập do can thiệp từ bên ngoài Năm 1993, khái niệm dân chủ mới bắt đầu xuất hiện ở Cambodia. Cơ quan Chuyển tiếp Liên Hiệp Quốc (UNTAC) can thiệp vào nền chính trị nước này, và tổ chức một cuộc bầu cử tự do, công bằng đầu tiên. Trong những năm 1980, Cambodia lún sâu trong cuộc nội chiến. Tới tháng 10 năm 1991, cộng đồng quốc tế gặp nhau tại Paris để vạch kế hoạch can thiệp và thiết lập hòa bình ở Cambodia. Và thế là Hiệp định Hòa bình Paris 1991 đã được các bên ký kết Quang cảnh buổi ký kết Hiệp định Hòa bình Paris 1991. Ảnh: Phnom Penh Post Hiệp định này xác lập nhiệm vụ của UNTAC trong các vấn đề sau: - Giám sát các cuộc bầu cử tự do và công bằng; - Thúc đẩy tôn trọng nhân quyền; - Tái định cư cho người tị nạn; - Giải giáp các phe phái tham gia cuộc nội chiến; - Thiết lập hệ thống luật pháp; - Tái thiết các cơ sở hạ tầng. Công bằng mà nói, đúng là UNTAC đã tổ chức được một cuộc bầu cử tự do, công bằng ở Cambodia, cũng như đã hỗ trợ tái định cư cho những người tị nạn. Song đến cuối cùng, nó vẫn không thể làm tròn vai trò đối với các vấn đề giải giáp các phe phái, tái thiết cơ sở hạ tầng và thiết lập hệ thống luật pháp. Giấc mộng của UNTAC về tương lai cho Cambodia vốn là quá không tưởng và viễn vông. Nó đã nuôi hy vọng chấm dứt cuộc nội chiến, xây dựng một chế độ nhân quyền bình đẳng với một bản hiến pháp mới. Tuy nhiên, UNTAC chỉ bỏ ra có tổng cộng 19 tháng để cố gắng thực hiện tất cả các điều đó ở Cambodia. UNTAC mang một ý nguyện rõ là tốt đẹp đến Cambodia, nhưng cách thực thi lại sai lầm. Rốt cuộc, những nỗ lực can thiệp ấy đã không thành công như mong đợi. Trái lại càng về sau, Hun Sen càng nhanh chóng tập trung quyền lực về tay mình. Đỉnh điểm là cuộc đảo chính đẫm máu lật đổ hoàng thân Norodom Ranariddh và toàn bộ giới hoàng gia năm 1997. Từ đó đến nay, Hun Sen và đảng của ông – Đảng Nhân dân Cambodia (Cambodia People’s Party – CPP) – hoàn toàn chi phối nền chính trị Cambodia. Băng rôn kêu gọi dân chủ ở Cambodia bằng tiếng Anh trong lần bầu cử năm 1998. Ảnh: Jerry Redfern. Văn hóa độc tài vốn luôn thắng thế ở Cambodia Tất cả những sự kiện kể trên chỉ cho thấy Cambodia đang dần dần dịch chuyển trở lại mô hình lãnh đạo độc tài truyền thống, bất chấp những nỗ lực can thiệp từ quốc tế. Thực tế, mô hình quản trị của Cambodia xưa nay vẫn tập trung vào các cá nhân – các nhà lãnh đạo độc tài mạnh mẽ. Từ thời cổ xưa của vị vua Jayavarman VII huyền thoại, cho tới Quốc vương Norodom Sihanouk người giữ nhiều chức vụ nhất trong lịch sử Cambodia, và giờ đây là thủ tướng Hun Sen – người đã nắm giữ quyền lực đến hơn 30 năm. Tất cả những ví dụ này là minh chứng cho truyền thống độc tài ấy. Rõ ràng là lịch sử, văn hóa, và truyền thống vẫn đang tiếp tục định hình quỹ đạo chính trị của Cambodia. Thậm chí, ngay cả phe đối lập cũng chẳng thể hiện tinh thần dân chủ gì cho cam. Trong nội bộ đảng chính trị đối lập lớn nhất, CNRP, quyền lực tập trung vào các cá nhân lãnh đạo như Sam Rainsy và Kem Sokha, hơn là vào các thiết chế đảng phái và lý tưởng của chính nó. Có lẽ sẽ chẳng có gì bất ngờ – giả định là phe đối lập sẽ có cơ hội cầm quyền – khi chính những người này cũng sẽ thiết lập một kiểu cai trị độc đoán y như chính quyền Hun Sen. Chính truyền thống độc tài đó đã khiến cho một nền dân chủ không thể vận hành thực sự ở Cambodia. Hun Sen, Thủ tướng đương nhiệm của Cambodia và cũng là lãnh đạo đảng cầm quyền CPP. Ảnh: Tang Chhin Sothy/AFP Mặc dù về mặt hình thức, Cambodia có mô hình nghị viện, đa đảng, và bầu cử. Thế nhưng, trong thực tế, Hun Sen đã tận dụng quyền lực của mình để “qua mặt” các thủ tục hiến pháp. Cho dù các thủ tục này được thiết kế ra để ngăn chặn độc tài, nhưng khi đặt vào trong bối cảnh người dân thờ ơ với dân chủ, thì chúng cũng chẳng còn hiệu lực gì nữa. Để dân chủ vận hành, thì người dân cần phải ủng hộ nó. Giáo sư Larry Diamond đã chỉ ra: “Một nền dân chủ chỉ thực sự được củng cố khi các công dân của nó tin rằng. một hệ thống chịu tuân thủ theo hiến pháp (hợp hiến) là điều phù hợp nhất cho đất nước. Bất kể là hệ thống đó hoạt động ra sao, hay ở trong bất cứ một khoảng thời gian nào.” Liệu có giải pháp nào cho nền dân chủ Cambodia? Muốn nền dân chủ có thể thực sự vận hành tại Cambodia, thì văn hóa đại chúng cần phải chuyển đổi trước. Đất nước này nhất định phải từ bỏ nếp văn hóa phục tùng xưa nay, mà ở đó người dân coi mình là thần dân của một chế độ cai trị. Sau đó, dứt khoát chuyển hẳn sang một nền văn hóa dân chủ, nơi người dân coi họ là công dân của một quốc gia. Chỉ có như vậy thì người dân mới tích cực tham gia vào đời sống chính trị, giám sát chính quyền, củng cố nhà nước pháp quyền, cũng như kiên quyết chống lại các khuynh hướng độc tài. Người dân Cambodia biểu tình đòi về quyền bầu cử năm 2014. Ảnh: REUTERS/Athit Perawongmetha Lịch sử Cambodia đã chứng minh quá rõ rằng, quyền lực nước ngoài không bao giờ là câu trả lời cho những cải cách đúng đắn và thay đổi tích cực cho đất nước. Bới vì các cường quốc nước ngoài chỉ thường đến rồi đi, chứ không mấy gì bận tâm cho tương lai của Cambodia. Chính vì vậy, điều cần thiết lúc này ở Cambodia không phải là những lời kêu gọi can thiệp thêm từ bên ngoài nữa. Mà ngược lại, điều kiện tiên quyết là phải có một nền văn hóa dân chủ trong nước. Mời xem Video: Việt Nam xuống nước hứa kỷ luật nặng tướng chỉ huy bắt cóc Trịnh Xuân Thanh: CHLB Đức nói gì? Thế nhưng, để làm được điều này thì không phải là chuyện một sớm một chiều. Cambodia vẫn còn phải trải qua một con đường rất dài, thì mới có thể mong đạt được văn hóa dân chủ. Những nỗ lực thiết lập một nền dân chủ bằng cách can thiệp từ bên ngoài, như câu chuyện của năm 1993, sẽ lại một lần nữa thất bại nếu người dân không ủng hộ dân chủ hóa. Kỳ cùng của vấn đề nằm ở chính bản thân người dân Cambodia, ở sức mạnh tiềm tàng đến từ niềm mong muốn dân chủ tự do từ mỗi một người họ. Vi Yên Tham khảo và bổ sung từ: Sothie Keo, Democracy in Cambodia did not die, it has yet to exist, The Diplomat, 17/9/2017. Cambodia Democracy Betrayed, New York Times, 11/9/2017. (Luật Khoa)
  16. Năm 2049, Trung Quốc sẽ kỷ niệm 100 năm Cuộc cách mạng năm 1949, 100 năm thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Từ nay tới thời điểm đó, Trung Quốc có thể sẽ hoàn thành “Giấc mộng Trung Hoa”, tức giành vị trí số 1 trên trường quốc tế, mục tiêu mà Chủ tịch Tập Cận Bình ủng hộ kể từ khi ông trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc cuối năm 2012. Để đạt được điều đó, những mục tiêu địa chính trị mà nước này nhắm tới là gì? Hình minh họa Mục tiêu kiểm soát Vùng đất rìa? “Vùng đất rìa” là một khái niệm được Spykman đưa ra vào năm 1942. Về mặt địa lý, vùng đất này bao gồm một vành đai liên tục từ Scandinavia đến bờ biển Trung Quốc. Trong cuốn sách “Địa lý học hòa bình” xuất bản năm 1944, Spykman viết: “Vùng đất rìa thuộc khu vực Á-Âu phải được xem như là một khu vực trung gian nằm giữa vùng đất trung tâm và các vùng biển ngoại vi. Vùng đất này có thể được ví như một vùng đệm xung đột rộng lớn giữa cường quốc biển và cường quốc đất liền.” Trong cuốn sách “Vấn đề của châu Á và ảnh hưởng của nó đối với chính trị quốc tế” xuất bản năm 1900, nhà sử học Alfred Thayer Mahan đề cập đến một “dải đất trung gian đã gây tranh cãi và còn tiếp tục gây tranh cãi”, kéo dài từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Mãn Châu (Trung Quốc). Năm 1915, nhà nghiên cứu Trung Quốc James Fairgrieve đã nói về một “khu vực đông đúc”, bao gồm “Phần Lan, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Luxemburg, Thụy Sĩ, Ba Lan, khu vực Balkan, Afghanistan, Vương quốc Xiêm và Hàn Quốc”. Một vài thập kỷ sau, trong cuốn sách “Địa lý và chính trị trong một thế giới chia rẽ” xuất bản năm 1963, nhà địa lý Saul Cohen lại miêu tả khu vực này như là “một khu vực rộng lớn có vị trí chiến lược do một số quốc gia có xung đột với nhau chiếm đóng và bị mắc kẹt giữa các lợi ích xung đột của các cường quốc lân cận”. Những định nghĩa nói trên về khu vực này ít nhiều có sự tương đồng và lập luận cơ bản giống nhau. Bằng mọi giá, cần tránh sự gắn kết giữa Vùng đất rìa và Vùng đất trung tâm, hay một Vùng đất rìa bị thống trị bởi một cường quốc, bởi như Spykman đã chỉ ra: “Ai thống trị Vùng đất rìa, người đó thống trị lục địa Á-Âu; Ai thống trị lục địa Á-Âu, người đó nắm giữ vận mệnh cả thế giới trong tay.” Tuy nhiên, việc một cường quốc biển kiểm soát Vùng đất rìa và các vùng biển không đồng nghĩa với việc kiểm soát Vùng đất trung tâm, mà có nghĩa là cường quốc biển đó không thể dùng Vùng đất trung tâm để chi phối thế giới. Do vậy, trong những thập kỷ gần đây các quốc gia nằm trong Vùng đất rìa bị giằng xé giữa việc gia nhập phạm vi ảnh hưởng của cường quốc đất liền (Nga) và cường quốc biển (Mỹ). Và nếu trong những năm gần đây, tình hình trở nên phức tạp hơn do sự tiến triển của trật tự quốc tế, thì tương quan lực lượng thực sự giữa các cường quốc được thể hiện tại Vùng đất rìa. Theo Mỹ và Nga, Vùng đất rìa luôn tạo thành một vùng đệm giữa cường quốc biển và cường quốc đất liền. Trên thực tế, Mỹ mong muốn cản trở những những động thái của Nga tiến về những vùng biển ấm, còn Nga đặt tham vọng tiếp cận những vùng biển này qua châu Âu và Trung Đông. Quả thực, sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã tăng cường sự hiện diện của mình tại Vùng đất rìa, với hy vọng kiểm soát nó nhờ sự mở rộng của NATO và hiện diện nhiều hơn ở khu vực Caucasus và Trung Á, cũng như ở Trung Đông nơi mà Washington cố gắng chống lại ảnh hưởng của Nga, đặc biệt ở Syria và Iran. Washington tiếp tục theo đuổi học thuyết ngăn chặn: Cản trở Nga (và Trung Quốc) tiếp cận các vùng biển ấm, cũng như các eo biển. Về phần mình, Nga tăng cường các nỗ lực chống lại chính sách của Mỹ và khẳng định lập trường của mình tại khu vực Caucasus và Trung Á thông qua việc củng cố các mối quan hệ trong Cộng đồng các quốc gia độc lập, thành lập Tổ chức Hiệp ước an ninh, sử dụng vũ khí năng lượng. Tuy nhiên, sự cạnh tranh truyền thống giữa Mỹ và Nga tại Vùng đất rìa giờ đây phải tính đến một nhân tố mới: Trung Quốc – vốn ngày càng khẳng định được vị thế trong khu vực. Trong khi nền văn hóa phương Tây ưu tiên các trò chơi như môn cờ vua – với đặc thù là sự đối đầu trực tiếp giữa người chơi, và nhằm đánh bại đối thủ, thì nền văn hóa châu Á, đặc biệt là nền văn hóa Trung Quốc lại ưu tiên cách tiếp cận gián tiếp hơn. Trong môn cờ vây – mà Trung Quốc áp dụng để mở rộng ảnh hưởng, các nước cờ thoạt đầu dường như không liên quan với nhau, nhưng lôgích của thế cờ dần được khám phá sau khi chắp nối các nước cờ. Việc thắng một ván cờ chỉ sau một nước cờ là điều không dễ thực hiện, chiến thắng chỉ đến sau khi đã đi rất nhiều nước cờ với những mục đích khác nhau nhưng phục vụ cho một chiến lược lớn. Trong trò chơi này, chiến thắng đồng nghĩa với việc chiếm được nhiều “đất” trên bàn cờ (tức mở rộng được nhiều hơn các vùng ảnh hưởng), và các chiến lược quan hệ được chú trọng hơn so với các chiến lược đối đầu. Bắc Kinh đã rất khôn khéo để Moskva và Washington đối đầu nhau trên bàn cờ Vùng đất rìa, đồng thời cố gắng tận dụng sự đối đầu Moskva-Washington để gia tăng ảnh hưởng trong vành đai khu vực này. Kể từ đầu những năm 1990, Trung Quốc đã quan tâm tới việc giải quyết các xung đột biên giới với các nước Trung Á và tăng cường ảnh hưởng trong khu vực thông qua Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), và thực hiện chính sách chi đầu tư, cho vay, xây dựng các đường ống dẫn dầu (từ Kazakhstan) và các đường ống dẫn khí (từ Turkmenistan) đến Tân Cương và phát triển nhiều tuyến đường bộ và đường sắt đến nhiều nước trong khu vực. Trung Quốc còn tăng cường sự hiện diện của mình thông qua việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên khắp thế giới, tham gia các hội nghị thượng đỉnh song phương và các hội chợ thương mại Trung Quốc-Á-Âu. Sau khi đã cẩn trọng đi các quân cờ ở Trung Á (gồm cả Afghanistan và Pakistan) kể từ 20 năm qua, Bắc Kinh cũng giành sự quan tâm lớn tới các nước và khu vực khác như Đông Nam Á, Trung Đông, khu vực Caucasus, Thổ Nhĩ Kỳ và Liên minh châu Âu (EU). Ở Đông Nam Á, Trung Quốc đã đầu tư mạnh mẽ vào các dự án cơ sở hạ tầng. Thành phố Côn Minh (thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) đã trở thành một địa điểm hấp dẫn mới nhờ Chương trình Tiểu vùng Mekong mở rộng và các hành lang kinh tế: Côn Minh-Bangkok, Côn Minh-Hải Phòng và Côn Minh-Kyaukpyu. Tỉnh Quảng Tây cũng nổi lên nhờ Dự án Hành lang kinh tế Nam Ninh-Singapore. Trung Quốc có kế hoạch đầu tư hơn 40 tỷ USD vào dự án hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan (xây dựng các đường ống dẫn dầu, hệ thống đường sắt, đường bộ, cảng Gwadar nối Tân Cương với Kashgar qua Khunjerab Pass). Ở Trung Đông, Trung Quốc tập trung chủ yếu vào Iran, nhưng cũng tập trung ngày càng nhiều vào Saudi Arabia và Qatar. Tại khu vực Caucasus, Trung Quốc cũng phát triển quan hệ hợp tác với Azerbaijan, đẩy mạnh quan hệ hợp tác với Thổ Nhĩ Kỳ – cả trong lĩnh vực thương mại, quân sự, lẫn cơ sở hạ tầng. Trung Quốc cũng đã thực sự thâm nhập EU, đặc biệt kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế ở khu vực này, thông qua “các cửa ngõ chính” là các nền kinh tế châu Âu bị tác động nặng nề bởi khủng hoảng (gồm Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha), cũng như một số nước Đông Âu (gồm Bulgaria, Romania, Hungary) và khu vực Balkan (như Serbia). Các doanh nghiệp Trung Quốc cũng quan tâm tới các cảng biển, như cảng Piraeus, các công ty đường sắt (như Công ty đường sắt quốc gia Hy Lạp – OSE) và sự phát triển của hành lang liên châu Âu nối Thổ Nhĩ Kỳ với châu Âu. Mục tiêu của những chính sách này của Trung Quốc là nhằm tăng cường sự kết nối giữa các nước ở Vùng đất rìa, một bước quan trọng trong chiến thuật cờ vây cho phép Trung Quốc bao vây một khu vực và đưa khu vực này vào phạm vi ảnh hưởng của nước này. Quỹ dự án con đường tơ lụa trị giá 40 tỷ USD đã được thành lập năm 2014, chủ yếu để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng của Vành đai kinh tế Con đường tơ lụa và Vành đai kinh tế biển. Cũng trong năm 2014, Trung Quốc đã thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á, với số vốn ban đầu 50 tỷ USD (chủ yếu do Trung Quốc góp vốn). Trung Quốc nỗ lực xây dựng lại Con đường tơ lụa nổi tiếng – từng phát triển rực rỡ khi đế chế Mông Cổ cường thịnh. Trong lịch sử, con đường này có hai nhánh, một nhánh đi qua Trung Á đến châu Âu và Nga, và một nhánh đi qua các nước và các khu vực như Tây Tạng, Myanmar, Việt Nam và Ấn Độ đến Nam Á và Đông Nam Á. Cuối cùng, Bắc Kinh cũng ý thức được rằng giống như Đế chế Mông Cổ trước đây, Trung Quốc là một cường quốc của Vùng đất rìa, nhưng vừa là cường quốc đất liền, vừa là cường quốc biển. Ngoài ra, Trung Quốc có mục tiêu lâu dài là kiểm soát Vùng đất rìa bằng cách cô lập Nga hoặc liên minh với nước này để cạnh tranh với vị thế cường quốc biển của Mỹ. Mục tiêu kiểm soát “đảo-thế giới”? Chính sách đối ngoại của Trung Quốc có thể khiến chúng ta đặt câu hỏi liệu nước này có những mục tiêu dài hạn nhiều tham vọng hơn hay không. Liệu Trung Quốc chỉ giới hạn tham vọng ở việc kiểm soát “đảo-thế giới” mà nhà địa lý H. J. Mackinder đề cập trong các tác phẩm của ông năm 1904? Mackinder đã định nghĩa “đảo-thế giới” là dải đất gồm châu Á, châu Âu và châu Phi. Khu vực trung tâm được hình thành bởi vùng đất trung tâm Á-Âu (tương ứng với Liên bang Xôviết cũ) và vùng đất trung tâm châu Phi (tương ứng với Cộng hòa dân chủ Congo). Chính sách của Trung Quốc ở châu Phi không tách rời chính sách mà nước này áp dụng đối với Vùng đất rìa, và đều dựa trên chiến thuật cờ vây. Trung Quốc hiện diện ở châu Phi không chỉ để tận dụng nguồn cung nguyên liệu mà Trung Quốc còn nhanh chóng hiểu rằng sẽ là thiếu sót nếu không đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở châu lục này. Trung Quốc đã đầu tư xây dựng lại tuyến đường sắt Benguela nối liền Cộng hòa Dân chủ Congo đến Đại Tây Dương. Hiện tại, Trung Quốc đã sẵn sàng triển khai dự án xây dựng tuyến đường sắt ở Đông Phi và tuyến đường sắt xuyên Kalahari, trải dài từ Namibia tới Botswana. Bắc Kinh cũng đã ký quan hệ đối tác với Liên minh châu Phi để xây dựng các cơ sở hạ tầng kết nối tất cả các thủ đô của lục địa này. Những cơ sở hạ tầng này cũng có thể dễ dàng kết nối với các cơ sở hạ tầng của Con đường tơ lụa, thông qua Ai Cập, trụ cột mới của sáng kiến Con đường tơ lụa, điều này cho phép củng cố chiến lược cờ vây của Trung Quốc. Điều này càng đúng nếu như người ta coi Con đường tơ lụa, như đã đề cập, cũng gồm một nhánh đường biển, từ Trung Quốc (Phúc Châu) đến Venice qua eo biển Malacca, Ấn Độ Dương, Kênh đào Suez và Địa Trung Hải. Vả lại, “chuỗi ngọc trai” nổi tiếng (chỉ các tuyến giao thông hàng hải của Trung Quốc) cũng được kéo dài tới bờ biển phía Đông châu Phi – nơi Trung Quốc đã tiến hành hiện đại hóa các cảng biển ở Kenya, Tanzania, Mozambique… Nếu mục tiêu trước mắt của Trung Quốc là bảo vệ các tuyến giao thông đường biển, thì liệu nước này còn duy trì mục tiêu dài hạn là bảo vệ “đảo-thế giới” trước cường quốc biển Mỹ? Chiến lược cờ vây nhằm mục đích đẩy lùi cường quốc biển (Mỹ) ra khỏi các bờ biển, điều mà Bắc Kinh đã cố gắng thực hiện ở Biển Đông (bằng cách cố gắng kiểm soát tuyến phòng thủ đầu tiên). Bất cứ hoạt động chống cướp biển nào mà Trung Quốc tham gia đều nhằm một mục tiêu lớn hơn là kiểm soát các tuyến đường giao thông biển kéo từ các bờ biển châu Phi đến Hải Nam. Như vậy, liệu chiến lược lớn của Trung Quốc có phù hợp với lời tuyên bố của Mackinder – “Ai kiểm soát được Vùng đất trung tâm, thì sẽ chỉ huy được đảo-thế giới; ai kiểm soát được đảo-thế giới, thì sẽ chi phối được cả thế giới”? Trong một bối cảnh như vậy, mục tiêu của Trung Quốc là kiểm soát, hoặc ít nhất trong phạm vi ảnh hưởng của nước này, hai trung tâm của “đảo-thế giới”: vùng đất trung tâm Á-Âu và Trung Phi. Mời xem Video: Hội nghị TW6: Đức hủy đối tác chiến lược là nội dung cực kỳ quan trọng Nguyễn Phú Trọng sẽ ra đi? Kịch bản này dường như không có tính thực tế. Tuy nhiên, Trung Quốc – vốn rất giỏi môn cờ vây – đã biết xếp đặt các quân cờ trên bàn cờ thế giới, mỗi quân cờ được tung ra vào một thời điểm nhất định để tấn công đối phương. Điều này được khẳng định khi Trung Quốc luôn có cách chọn thời điểm khác so với phương Tây, và họ cũng phát triển một chiến lược lớn trong dài hạn. Chiến lược lớn này dường như không thể thực hiện được, trước sự phản đối của các cường quốc khác, đặc biệt là Mỹ, chưa kể thách thức đặt ra bởi sự bất ổn của một số khu vực “đảo-thế giới”. Tuy nhiên, dưới góc độ địa chính trị, chiến lược này mang lại một khuôn khổ khái niệm cho phép hiểu rõ tính chặt chẽ của chính sách đối ngoại hiện nay của Trung Quốc. Tuy nhiên, dường như tiến trình tái cấu trúc “đảo-thế giới”, một tiến trình mang tính lịch sử và lâu dài, mới chỉ ở giai đoạn ban đầu. Nói cách khác, thế giới đang đầy biến động và một bản đồ địa chính trị mới đang được vẽ ra. Tanguy Struye de Swielande Nguồn: “La Chine et ses objectifs géopolitiques à l’aube de 2049“, Diploweb, 03/09/2017.Biên dịch: Hương Lan * Tanguy Struye de Swielande, Giáo sư Quan hệ quốc tế tại Đại học Louvain la Neuve (Bỉ). (Nghiên cứu Biển Đông)
  17. Việt Nam có phải là một quốc gia “dân chủ phi tự do”? Theo định nghĩa của Zakaria, dân chủ phi tự do phải có bầu cử lãnh đạo quốc gia công bằng mà kết quả thể hiện ước muốn của đa số-thì Việt Nam không phải hay chưa phải là một nền dân chủ phi tự do. Việt Nam hiện nay, dưới chế độ độc đảng Cộng Sản, là một quốc gia độc tài đang trên chiều hướng khai mở. Tức là Việt Nam hiện nay đang đi từ một thể chế độc tài toàn trị (totalitarianism) đến một thể chế độc đoán (authoritarianism). Công an ngăn không cho chụp hình, tại một cuộc biểu tình chống TQ ở Hà Nội. Nguồn: Reuters/ Nguyen Lan Thang. Nhân dân đang dần được sống trong một không gian kinh tế thông thoáng hơn, thịnh vượng hơn nhưng chính trị ngày càng khắt khe hơn (nhưng hãy ráng đọc đến cùng bạn nhé). Tuy rằng về các phương tiện như báo chí, hội đoàn thì về chính sách ngày càng bị giới hạn và kiềm chế-dù internet đã làm cho mọi chính sách về tư tưởng và thông tin, báo chí của Đảng trở nên vô hiệu. Độc tài ở Việt Nam là một thể loại độc tôn chủ nghĩa trong định chế đảng trị, cộng với guồng máy công quyền và nhân sự thiếu hiệu năng và thối nát. Nó không như các thể loại độc tài cá nhân hay quân phiệt như Nam Hàn hay Singapore trước đây vốn đã xây dựng những định chế cần thiết cho không gian tự do nhằm tạo cơ hội tiến đến dân chủ pháp quyền. Việt Nam có thể chuyển hóa từ độc tài đảng trị sang một độc tài pháp quyền? Nên nhớ rằng các nền dân chủ lớn như Ấn Độ và Mexico, cho đến gần đây, vẫn là những quốc gia dân chủ độc đảng. Nếu đảng Cộng Sản Việt Nam có thể: 1. Từ bỏ nội dung và hình thái chủ nghĩa Mác-Lênin 2. Mở rộng không gian tự do bằng con đường xây dựng những định chế pháp trị và pháp quyền khách quan với một hệ thống tư pháp và tòa án vô tư, độc lập, hiệu quả. 3. Đặt ưu tiên kinh tế vào thị trường, giảm thiểu vai trò quốc doanh thiếu hiệu năng 4. Tôn trọng quyền tư hữu ruộng đất và bất động sản bằng hiến pháp 5. Cải tổ bộ máy hành chính công quyền trở nên hiệu quả, trong sạch, minh bạch 6. Xây đắp một đội ngũ công chức, cán bộ và lãnh đạo địa phương xứng đáng 7. Cải tổ sâu rộng cơ chế và chính sách giáo dục… Từ những điều trên tình trạng độc quyền, độc đảng sẽ không phải là khuyết điểm bất trị. Singapore là một mô hình độc đảng hiệu năng khi họ đã theo đuổi một định hướng tự do như vậy. Khi thịnh vượng quốc gia chưa đạt đến mức chuyển hóa chính trị thì chìa khóa cho sự chuyển hóa này không chỉ là ý thức tự do-mà nhân dân Việt Nam có đủ-mà là ý chí tự do và cách mạng thể chế của một khối quần chúng quyết định, hay một vài lãnh đạo có ý lực đạo đức cho tự do nhằm thuyết phục, thúc đẩy, thực thi cải cách toàn diện cho một bộ máy lỗi thời, ù lì và phản tiến bộ của đảng Cộng Sản Việt Nam bây giờ. Với tình hình hiện nay, ý thức và nhu cầu cách mạng thể chế đã chín muồi-và chỉ có người cộng sản Việt Nam, đang nắm vai trò trọng yếu trong thể chế, đương quyền “có tâm, có tầm” mới có khả năng làm chủ được cuộc thay đổi này. Nền dân chủ hóa thì Việt Nam sẽ đi vào hỗn loạn không? Câu trả lời phải là không, hay là với khả năng rất thấp. Chúng ta phải công nhận rằng, trên trường quốc tế, khách quan nhận xét, về phương diện nội trị, để thiết lập một thể chế chính trị ổn cố, một trật tự công quyền và an ninh vững chắc, thì Việt Nam đã và đi một bước thành công khá xa-dù cho nội dung trật tự, bản sắc công lý, mức độ trong sạch, minh bạch trong một không gian tự do, pháp quyền đã không đạt được một tầm mức mà phần đông dân chúng mong muốn. Từ một trật tự ổn cố nhưng chưa đạt được nội dung thể chế xứng đáng, Việt Nam đang có nhiều cơ hội và khả năng chuyển hóa con lộ dân chủ bằng phương thức khai mở các định chế tự do hiến định (constitutional liberalism) và phải theo quy trình “tự do trước, dân chủ sau”. Không như các quốc gia khác, ở Việt Nam thì mâu thuẫn địa phương, chủ tộc, hay các yếu tố phân biệt không sâu đậm hay chưa có một lịch sử chia rẽ khó hàn gắn . Ngay cả mâu thuẫn tôn giáo ở Việt Nam cũng rất thấp. Một Tổng Thống dân chủ của một VIệt Nam dân chủ có thể tấn công giàn khoan Trung Quốc ở biển Đông để xoa dịu và mị dân trước cao trào bài Trung , khơi mào một cuộc chiến mới đầy tai hại với Trung Quốc. Hay các sắc dân thiểu số gốc Khmer ở Tây Nam Bộ, hay gốc Thái, Nùng ở cực Bắc, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có thể nổi lên phong trào tự chủ, hay một khối quần chúng ở Sài Gòn tranh đấu cho những giá trị hay biểu tượng cũ của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng những vấn đề này chỉ là những nguy cơ tương đối thấp vốn có thể giải quyết bằng những phương thức đối thoại và hòa giải khôn khéo bởi lãnh đạo quốc gia. Nên nhớ rằng, dù dân chủ hay không dưới bất cứ chế độ, thể chế hay nhân sự lãnh đạo nào, toàn bộ cơ chế quân đội, công an và hành chính Việt Nam hiện nay phải được giữ nguyên-dĩ nhiên là phải được cải cách toàn diện, độc lập khỏi đảng phái, trong sạch hóa, chuyên môn hóa và pháp chế hóa. Sai lầm của Hoa Kì khi lật đổ Sadam Hussein ở Iraq vào năm 2003 là giải thể quân đội và guồng máy chính thể của đảng Baath, tạo nên một khoảng trống công quyền và hành chính, dẫn đến hỗn loạn không chữa trị được. Trong lúc đó, Nelson Mandela của Nam Phi, vị tổng thống da đen đắc cử, đã giữ nguyên hệ thống hành chính công quyền của người da trắng, tạo nên một sự chuyển quyền êm đẹp, tiếp tục cải cách xã hội một cách đầy trật tự và hiệu năng. Những người Cộng Sản Việt Nam (CSVN) có thể tự tiến hành một cuộc cách mạng thể chế hay không? Không ai có thể lường trước được cái gì có thể xảy ra và như thế nào cho tương lai. Chúng ta hãy bình tâm nhìn lại, bỏ qua những hiềm khích: Từ khi đi theo khúc quanh đổi mới, suốt phần tư thế kỉ qua, đảng CSVN đã đạt được những thành công về kinh tế, xã hội, ngoại giao đầy ấn tượng, không gian tự do cá nhân và xã hội cũng được mở rộng và xã hội cũng được mở rộng ra nhiều-dù không được như lòng dân và thời đại đòi hỏi. Nếu chấm bảng điểm thì họ đã được điểm C+ hay C-, vừa đủ để đỗ, nhưng chưa đến mức thành công. Nhưng cho đến nay thì con đường đổi mới của đảng CSVN đang đi đến tận cùng hết mức khả thể và khả thi của nó. Chính thể và guồng máy công quyền Việt Nam, từ định chế quy tắc đến phẩm chất nhân sự, đang đi vào con đường băng hoại, thối nát, thiếu hiệu năng, chuyên quyền và bất công trên hầu hết mọi phương tiện. Hãy nhìn vào sinh hoạt giáo dục ở học đường. Không quốc gia nào mà chúng ta được biết (trừ Trung Quốc), có nạn “phong bì” hối lộ ngang nhiên và mất nhân phẩm giữa học trò và thầy cô như ở Việt Nam hiện nay. Nhìn đâu cũng thấy tham nhũng, thối nát, từ trung ương đến địa phương, từ giáo dục đến quân đội, công an hay thương trường. Tham nhũng, đút lót nay đã trở thành quy luật phổ biến chứ không còn là ngoại lệ. Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm trước quốc nạn này. Văn hóa tham nhũng khởi phát từ văn hóa chính trị, văn hóa chính trị khởi phát từ thể chế và chính sách sai lầm của lãnh đạo. Không thể trách rằng nhân dân chấp nhận văn hóa tham nhũng được. Thối nát xã hội Việt Nam hiện nay bắt nguồn từ thối nát chính trị và công quyền. Công bằng mà nói, trên thế giới hiện nay, như Ấn Độ, Campuchia, Venenzuela, Indonesia, nạn thối nát, tham nhũng công quyền không thua kém gì ở Việt Nam. Những ai đã đi qua Ấn Độ, một nền dân chủ từ 1947 sẽ thấy công an giao thông ở đó tống tiền tài xế còn trắng hơn ở Việt Nam nhiều, hoặc ai đã xem bộ phim Triệu Phú Khu Ổ Chuột (2008) có thể thấy cảnh sát Ấn Độ thoái hóa, vô trách nhiệm như thế nào. Tất cả đều có nguyên nhân từ lãnh đạo thể chế chính trị. Việt Nam xứng đáng có một thể chế chính trị tốt đẹp hơn hiện nay. Tuy nhiên, với một chính chế và quy trình đang có có để tuyển lọc nhân sự lãnh đạo của đảng CSVN, khó mà có một hay vài cá nhân có khả năng vượt qua được tính ù lì, bảo thủ của cơ chế. Những ai có ý chí cải cách mạnh đều bị loại ra khỏi guồng máy để rồi trở nên bất mãn, vô hiệu quả (giống như trường hợp con heo Napoleon loại những con heo có ý tưởng cải cách, tiến bộ trong tác phẩm Trại Súc Vật của George Orwell). Rốt cuộc, mọi người muốn tham dự vào đế chế này phải tuân thủ và nói theo một luận điệu có sẵn như cá bô lão đọc sớ cúng ở đình làng theo đúng nghi thức. Mời xem Video: EUROPOL xem xét truy nã Quốc tế Nguyễn Phú Trọng chủ mưu bắt cóc Trịnh Xuân Thanh? Tình hình hiện nay đòi hỏi một nhân vật gần như phi thường, đầy mưu lược, vận dụng nhiều mưu kế khác nhau, trong viễn kiến cải tổ thể chế toàn triệt, dành được quyền hạn quyết định để tiến hành một cuộc thay đổi lớn cho lý tưởng dân chủ tự do. Nhưng đây chỉ là ước mơ, ít có khả năng thành hiện thực. Cái còn lại với xác xuất cao hơn là một Bộ Chính Trị mới có tâm và tầm nhìn chiến lược cho quốc dân, vợt qua quyền lợi cá nhân và phe phái, tiệm tiến cải tổ sâu rộng và từng phần cho bộ máy chính trị và công quyền hiện nay. Tức là, tự do trước, dân chủ sau. Nếu không có những yếu tố bất định trong chính sách quốc gia và thế giới, hay là sự khởi động của một cao trào quần chúng trong một năng lực ý chí và ý thức tự do mới-thì liệu đây có phải là định mệnh cho Việt Nam trong vòng hai ba thập niên tới? Tương lai cho tự do và dân chủ ở Việt Nam sẽ còn là một con đường nhiều thử thách, cay nghiệt và đầy bi vọng. Dịch giả Nguyễn Hữu Liêm, được trích từ cuốn Tương Lai của Tự Do, một số chỗ đã được biên tập để người đọc dễ hiểu. (Quan hệ Quốc tế)
  18. Chọn lựa và thiết lập một mô hình chính trị dân chủ làm nền tảng cho sự phát triển là công việc đầu tiên và quan trọng nhất của một quốc gia khi chuyển đổi chế độ từ độc tài sang dân chủ. Chọn lựa một mô hình chính trị là một công việc khoa học và do đó một mô hình nên được chọn lựa dựa trên những đánh giá một cách khoa học và khách quan. Là một nước đi sau, Việt Nam có cả thuận lợi và bất lợi. Thuận lợi ở chỗ Việt Nam có thể tham khảo các mô hình chính trị dân chủ của các nước cũng như tất cả các bản hiến pháp, luật lệ, và cấu trúc của các cơ quan chính quyền. Bên cạnh những thuận lợi đó, một bất lợi lớn nhất đối với Việt Nam là đa phần người dân, kể cả giới trí thức, chưa có dịp sinh hoạt và những kinh nghiệm quản trị trong một chế độ dân chủ. Nhưng nếu nhìn kinh nghiệm của các nước như Đài Loan hay Hàn Quốc, và gần đây hơn là Indonesia, từng bước thiết lập và vun xới những cơ chế chính trị dân chủ nở rộ, những người Việt Nam hẳn sẽ phải tự tin vào chính mình rằng rồi đây chúng ta, bằng óc cầu tiến, chịu khó tham khảo và đào sâu tìm hiểu sự thành công cũng như những yếu kém của các mô hình chính trị, sẽ có thể thiết lập và vun đắp một mô hình chính trị dân chủ phù hợp với tình hình Việt Nam. Thiết lập một công trình cần một bộ khung. Dựng xây một chế độ chính trị cũng vậy. Một mô hình chính trị cần những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc này là trụ cột mà dựa vào đó hiến pháp, luật lệ, và sự phân bổ của các cơ quan chính phủ được dựng xây sao cho nhằm đảm bảo những nguyên tắc này. Có năm nguyên tắc quan trọng mà một mô hình chính trị thành công cần phải có: · Một, chế độ chính trị phải có khả năng giúp ngăn ngừa sự hình thành một chế độ độc tài mới; · Hai, chế độ phải giúp ngăn ngừa xảy ra các cuộc đảo chính; · Ba, chế độ bảo đảm một chính quyền ổn định và làm được việc; · Bốn, chế độ có khả năng ngăn ngừa sự thực thi các chính sách tồi dở; · Năm, chế độ giúp kéo dài sự cầm quyền của một chính phủ thành công. Nhiều người thường mắc một lỗi sai khi đánh giá một mô hình chính trị rằng họ chỉ nhìn chức vụ những người đứng đầu chính quyền rồi đưa ra một kết luận hời hợt về sự thành công của mô hình chính trị đó. Họ nhìn thấy nước Mỹ hùng mạnh và nghĩ rằng mô hình tổng thống là thành công. Nhiều người khác, kể cả người Mỹ, nhìn thấy người Bắc Âu sống sung túc và hạnh phúc, rồi họ nghĩ rằng chế độ đại nghị là ưu việt. Nhưng nếu nhìn kỹ lại thì không mấy mô hình tổng thống thành công, trừ Mỹ, cũng như không phải tất cả mô hình đại nghị đều thắng lợi. Một số mô hình đại nghị đem lại sự giàu có của một quốc gia nhưng thiếu vắng ở đó những giá trị của tự do và dân chủ. Sự sai lầm nằm ở chỗ khi đánh giá một mô hình chính trị dựa vào bề ngoài của các cơ quan chính phủ, nhiều người đã bỏ qua cơ chế tương tác quyền lực giữa các cơ quan, và sâu xa hơn là những nguyên tắc phân bổ quyền lực vốn liên quan đến việc thiết lập các cơ chế bầu cử cũng như việc phân chia nhiệm vụ, cân bằng và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan để từ đó hình thành nên các chính sách của một quốc gia. Hiểu được điều đó thì mới thấy mục đích của những người chọn lựa hệ thống bầu cử, phân chia trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan chính phủ đặng làm cho bộ máy chính quyền hoạt động thông suốt và hiệu quả trong một chế độ dân chủ. Liệu rằng có một chế độ chính trị nào đã từng tồn tại và thành công có chứa đựng đủ 5 nguyên tắc đề cập bên trên hay không? Câu trả lời là có, đó là chế độ đại nghị - tản quyền kiểu Đức của nước Cộng Hòa Liên Bang Đức. Gọi là đại nghị - tản quyền kiểu Đức để phân biệt với các chế độ đại nghị - tản quyền khác như Canada, Úc, Bỉ, Ấn Độ, hay Malaysia. Sự khác biệt chính nằm ở chỗ người Đức thiết lập một cơ chế bầu cử khác biệt nhằm hình thành nên các đảng lớn nhưng không cho đảng nào dễ dàng chiếm được đa số trong quốc hội để khuynh loát quyền lực chính phủ, đồng thời họ thiết lập các luật chính phủ cũng như phân bổ quyền lực giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp, và quyền lực giữa chính quyền liên bang và tiểu bang nhằm làm cho chính phủ ổn định, hoạt động hiệu quả, và bảo đảm dân chủ được thực thi. Bên cạnh 5 nguyên tắc trên, việc chọn lựa một mô hình chính trị cho Việt Nam còn nên xét đến các yếu tố đặc trưng về lịch sử, văn hóa, vùng miền, và dân số. Một cách may mắn, Đức mang nhiều nét tương đồng với Việt Nam. Nước Đức có hơn 80 triệu người, trãi rộng ra các khu vực địa lý khác nhau và khác biệt nhau nhiều về văn hóa. Khác với một vài nước châu Âu khác nơi người dân quen với nếp sống dân chủ, chế độ dân chủ Weimar của Đức nhanh chóng sụp đổ, và vì thế người Đức chưa có bề dày văn hóa dân chủ khi chính quyền Tây Đức áp đặt chế độ đại nghị - tản quyền bắt đầu vào năm 1949. Mời xem Video: TBT Nguyễn Phú Trọng yêu cầu làm rõ lời khai của Trịnh Xuân Thanh để tiếp tục xử lý Đinh La Thăng? Sự thành công của mô hình chính trị Đức không những giúp nước Đức phát triển một cách mạnh mẽ, vươn lên trở thành nền kinh tế hùng mạnh nhất châu Âu, mà còn giúp xây dựng một chế độ dân chủ bền vững kể từ ngày thiết lập chế độ dân chủ đại nghị - tản quyền năm 1949, trải qua cuộc sát nhập Đông Đức, và tiếp tục mạnh mẽ vươn lên. Sự ổn định của chế độ dân chủ Đức còn ở chỗ trong suốt sáu thập kỷ của Hạ nghị viện Đức, nơi bầu chọn ra thủ tướng, chỉ có duy nhất 8 thủ tướng, khi so với Ý trong cùng thời kỳ có tới 37 thủ tướng. Những đặc điểm trong thiết kế luật chính quyền nhằm giúp cho sự ổn định của chính phủ Đức sau đó đã được dùng lại ở các quốc gia khác nhau từ Bỉ, Tây Ban Nha, Hungary, Slovenia và Lesotho. Sự thành công của mô hình chính trị đại nghị - tản quyền kiểu Đức, cùng với những tương đồng về dân số, địa lý, và văn hóa dân chủ do đó cung cấp thêm những yếu tố thuyết phục cho việc chọn lựa mô hình chính trị đại nghị-tản quyền kiểu Đức làm mô hình chính trị tham khảo của một nước Việt Nam dân chủ. Nguyễn Huy Vũ (Blog Nguyễn Huy Vũ)
  19. Nhận thức về cốt lõi của quyền lực ta thấy việc làm tan rã một chế độ độc tài không phải là một điều bất khả thi. Độc tài cộng sản không là một ngoại lệ. Cho nên ta cần phải xét xem chế độ độc tài cộng sản có những đặc điểm nào dễ bị chọc thủng để làm nền tảng cho một cuộc cách mạng không tiếng súng. Bài này được viết để đóng góp thêm sức mạnh cho cuộc cách mạng bất bạo động đang nổi dậy ở Việt Nam nhằm thanh toán nạn độc tài đang trở nên thối nát. Người dân bất mãn đang nổi dậy, nhưng cách mạng sẽ không thể thành công nếu không có sự tham dự của trí thức và tuổi trẻ. Với ước mong là trí thức và tuổi trẻ Việt Nam sẽ làm nên sự nghiệp cứu nước và giữ nước, những dòng viết sau đây hy vọng mang thêm sáng suốt và tin tưởng cho cuộc cách mạng dân chủ đang tiến hành, sớm thành công. Những nhược điểm của một nền độc tài Những nhược điểm của một nền độc tài thì nhiều, nhưng những điểm quan trọng nhất và cần chú ý, đối với những người đấu tranh hiện nay, thì gồm những điểm sau đây: 1/ Lề thói vận hành hệ thống quản trị đã trở thành quán tính khó điều chỉnh để đáp ứng tình hình mới (chẳng hạn như các khó khăn kinh tế). 2/ Cấp dưới sợ làm mất lòng cấp trên nên luôn luôn báo cáo sai lầm. 3/ Ý thực hệ bị xói mòn. Thực tế bị lãng quên. 4/ Mâu thuẫn nội bộ, tranh giành cá nhân, hiềm khích thù địch, đang tạo tác hại và làm đình trệ sự vận hành của chế độ. 5/ Những khác biệt địa phương, trở nên nhức nhối. 6/ Hệ thống quyền lực hàng dọc của chế độ đã trở nên bấp bênh. Những đơn vị cảnh sát hay quân đội địa phương theo đuổi mục tiêu riêng của họ, bao gồm cả mưu đồ đảo chánh. 7/ Hiện tượng quá ít người đủ khả năng, đủ tầm cỡ để quyết định, để né tránh những sự sai lầm trong phán quyết, trong chính sách, trong hành động là không thể giải quyết. 8/ Nếu muốn tránh hiểm họa này bằng cách tản quyền cho cấp dưới thì họ lại tự làm sói mòn quyền lực ở thượng tầng. Tấn công vào nhược điểm của chế độ độc tài Với những nhược điểm trên ta thấy, mặc dù ra vẻ mạnh mẽ, nền độc tài nào cũng là một cơ chế yếu kém. Không phải điều gì chế độ muốn là sẽ đạt được. Cho nên trong nhiều trường hợp ta thấy chế độ độc tài tan vỡ rất nhanh. Vì thế, nếu tấn công vào các nhược điểm của chế độ thì sẽ dễ thành công hơn là đánh vào các chỗ họ mạnh nhất. Câu hỏi còn lại là phải đánh thế nào? Thế nào là phản kháng chính trị? Nếu ta muốn tấn công một chế độ độc tài bằng quân sự tức là chúng ta muốn đánh vào điểm mạnh nhất của họ. Do đó, các lực lượng dân chủ đừng làm như vậy. Chúng ta phải hành động thế nào để làm trầm trọng thêm những nhược điểm của họ. Phương cách đó chính là phản kháng chính trị. So sánh với đấu tranh bạo lực thì phản kháng chính trị phức tạp và đa dạng hơn nhiều. Thay vì dùng quân đội và súng ống chúng ta phải dùng các võ khí tâm lý, xã hội, kinh tế và chính trị. Các võ khí này đã được biết qua bằng các tên gọi như: biểu tình phản đối, đình công, bất hợp tác, tẩy chay, bất mãn và thế lực quần chúng. Các chế độ độc tài chỉ có thể cai trị khi nào họ còn nhận được sự tiếp tế cho những nguồn lực của chế độ qua sự quy phục và tuân thủ của quần chúng. Phản kháng chính trị thích hợp cho sự cắt lìa những tiếp tế cho những nguồn lực đó. Phản kháng chính trị: vũ khí và kỷ luật Phản kháng chính trị không chỉ thuần túy trông cậy vào đình công và biểu tình của số đông. Thật ra còn nhiều phương pháp khác cho phép các chiến lược gia tập trung hay phân tán các lực kháng cự tùy theo nhu cầu của tình hình tranh đấu. Những phương pháp nói trên được xếp thành 3 loại: 1/phản đối và thuyết phục; 2/ bất hợp tác và 3/ can thiệp. Những phương pháp bất bạo động thuộc loại phản đối và thuyết phục là những hành động mang tính biểu kiến bao gồm: diễn hành, xuống đường, và những đêm canh thức. Loại bất hợp tác được chia ra thành 3 nhóm nhỏ: bất hợp tác xã hội, bất hợp tác kinh tế (bao gồm tẩy chay và đình công) và bất hợp tác chính trị. Loại can thiệp sử dụng những hình thức tâm lý, thể chất, xã hội như tuyệt thực, chiếm ngụ bất bạo động và hình thành chính quyền song song. Các biện pháp nói trên có khả năng tạo khó khăn trầm trọng cho mọi chế độ bất hợp pháp. Điều này đúng cho tất cả các chế độ độc tài. Một số đấu tranh bất bạo động đòi hỏi người ta phải làm một số hành động không dính dáng gì đến đời sống thường ngày nhưng cũng có những phương pháp đấu tranh chỉ cần làm khác với đời sống thường ngày một chút thôi: thí dụ, thay vì đình công có thể lãng công nghĩa là làm việc chậm hơn hay kém hiệu quả hơn. Kỷ luật trong đấu tranh bất bạo động là chìa khóa của thành công và phải được duy trì bất chấp mọi khiêu khích và đàn áp của kẻ độc tài. Trong đấu tranh bất bạo động, những đàn áp thô bạo sẽ tạo phản ứng chính trị ngược lại vào phía độc tài và sẽ tạo ra những sự ủng hộ các nhà đấu tranh trong phía quần chúng. Có thể vẫn có thiệt hại nhân mạng trong phản kháng chính trị. Nhưng con số này ít hơn nhiều so với đấu tranh quân sự. Phản kháng chính trị sẽ giúp quần chúng bỏ đi sư sợ hãi đối với chế độ. Đánh mất hay kiềm chế được sự sự sợ hãi là yếu tố then chốt trong việc phá hủy quyền lực của phe độc tài chà đạp khối quần chúng. Điều quan trọng cần ghi nhớ là phải có số đông quần chúng thì mới có đủ áp lực để tạo thay đổi, nhưng số đông đó chỉ đáng được tin cậy khi kỷ luật gắt gao được duy trì trong phong trào. Làm tan rã chế độ độc tài Chiến dịch phản kháng chính trị khéo léo sẽ làm vững mạnh thêm lực lượng đối kháng và mở rộng những lãnh vực xã hội mà sự kiểm soát của chế độ độc tài càng ngày càng bị thu hẹp. Nếu không với tới được những nguồn lực chính trị của họ, hệ thống độc tài sẽ bị suy yếu dần dần và cuối cùng sẽ bị hòa tan. Phản kháng chính trị sẽ dần dân mở rộng “không gian dân chủ” trong xã hội và thu nhỏ vùng kiểm soát của chế độ. Với thời gian, chiến dịch kháng cự và nỗ lực xây dựng định chế sẽ dẫn đến tình trạng mặc nhiên cho tự do. Những nhà đấu tranh dân chủ nên ý thức rằng trong một vài trường hợp sự sụp đổ của chế độ độc tài có thể xảy ra vô cùng mau chóng (chẳng hạn như Đông Đức năm 1989). Tuy nhiên đây không phải là một thông lệ nên tốt hơn hết là phải chuẩn bị cho một cuộc tranh đấu trường kỳ. Các nhà dân chủ nên chuẩn bị một chính phủ lâm thời vào giai đoạn cuối của cuộc đấu tranh. Phải tính toán thế nào để một thể chế mới thích hợp xuất hiện và thành phần của chính phủ mới phải được lòng dân. Sự thiếu vắng chính phủ mới hoàn toàn nguy hiểm vì nó phát sinh hỗn loạn và có thể dẫn đến một chế độ độc tài khác. Mời xem Video: Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Xuân Phúc phối hợp với Trung Quốc dàn dựng vụ Bãi Tư Chính thế nào qua tài liệu của Tổng Cục 2? Phải tránh để xảy ra một cuộc tắm máu trả thù vì nó sẽ mang lại những hậu quả trầm trọng cho thể chế dân chủ tương lai. Cũng cần có sẵn những kế hoạch về một định chế dân chủ trên nền tảng hiến pháp với đầy đủ các quyền tự do chính trị và tự do cá nhân. Phản kháng chính trị có nhiều triển vọng mang lại chiến thắng, Sự tan rã của chế độ độc tài đương nhiên là đáng được chào mừng. Tất cả những người còn sống và những người đã khuất sẽ được ghi nhớ như những vị anh hùng đã viết lên những trang sử tự do cho dân tộc. Maryland ngày 28/7/2017 Nguyễn Cao Quyền (Dân Làm Báo)