Chatbox
    You don't have permission to chat.
    Load More

Forums

  1. Thông Báo

    1. 1
      post
  2. Tin Tức

    1. 181
      posts
    2. 213
      posts
    3. 22
      posts
    4. 1,409
      posts
    5. 36
      posts
    6. 108
      posts
    7. 132
      posts
    8. 11
      posts
    9. 2
      posts
  3. Âm Nhạc

    1. Thông Tin Âm Nhạc   (307 visits to this link)

    2. 7
      posts
    3. 7
      posts
    4. 20
      posts
  4. Vườn Thơ

      • No posts here yet
    1. 2
      posts
      • No posts here yet
  5. Đời Sống Xã Hội & Tâm Linh

    1. 25
      posts
    2. 22
      posts
    3. 3
      posts
  6. Văn Hóa & Nghệ Thuật

    1. 13
      posts
    2. 8
      posts
    3. 11
      posts
    4. 7
      posts
  7. Giải Trí

    1. 2
      posts
  8. Hoàng Sa (VN) Lưu Trử - Storage

    1. 2
      posts
  • Images

  • Latest Videos

  • Video Statistics

  • Posts

    • Phần cuối của loạt 4 bài về hiện tình lãnh đạo tôn giáo Cao Đài phân tích tính chính thống của Hội Đồng Chưởng Quản, trong danh hiệu và hoạt động. RFA
      2008-06-26
      CaoDai 4     Những tranh chấp trong vấn đề của tôn giáo Cao Đài có những sai biệt khi so sánh giữa hình thức và bản chất hay khi thay đổi vị trí quan sát. Nhiều người cho rằng đây là cuộc tranh đấu để bảo toàn sự chính danh và tính nguyên thuỷ của một tôn giáo, nhưng cũng có người nói đây chỉ là cuộc tranh chấp liên quan đến quyền lợi và danh vọng. 
        Qua cầu với " Thiên nhãn" biểu tượng cho Thượng đế Tối cao trong triết lý Cao Đài, Hình từ wikipedia Hình từ wikipedia Trong bài cuối cùng này của loạt 4 bài, ban Việt ngữ  trình bày những ý kiến liên quan đến điều này. Diễn tiến câu chuyện sẽ bị coi là thiếu sót nếu không lưu ý đến sự can thiệp trực tiếp của chính quyền vào nội bộ tôn giáo..

      Có thể nói tổng quát, “vấn đề” của đạo Cao Đài cho đến thời điểm hôm nay xoay quanh câu hỏi về tính chính thống, trong danh hiệu cũng như trong hoạt động, của Hội Đồng Chưởng Quản.

      Cuộc cầu nguyện bất thành ngày 17-3 vừa qua tại Tây Ninh liên quan trực tiếp đến điều này. Những người cầu nguyện yêu cầu phục quyền Hội Thánh theo hiến chương và hiến pháp của đạo. Điều này đồng nghĩa với việc, họ không xem Hội Đồng Chưởng Quản có thể đảm nhiệm, hoặc hành xử, trong tư cách Hội Thánh, hoặc tương đương Hội Thánh, hoặc với tư cách cơ quan đứng đầu tôn giáo Cao Đài. Sự ra đời củaHội Đồng Chưởng Quản Hội Đồng Chưởng Quản, khởi thuỷ gồm 12 vị, nay lên đến 36 vị, ra đời trong bối cảnh Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bị giải thể theo một quyết định của chính quyền tỉnh Tây Ninh vào năm 1979.  Hiền Tài Nguyễn Thanh Liêm, từ California, nhớ lại.

      “Khi Đạo Cao Đài lập ra thì có hiến pháp, tức là Pháp Chánh Truyền. Hội Thánh lúc đó có đặt ra Tân Luật rất rõ ràng. Trong Pháp Chánh Truyền không có từ “Hội Đồng Chưởng Quản.” Tức là Hiến Pháp không qui định Hội Đồng Chưởng Quản. Vì vậy phần đông nhơn sanh trung kiên không đồng ý.”

      Trong quan niệm của phía Cao Đài nguyên thuỷ, Hội Đồng Chưởng Quản ra đời trong bối cảnh đặc biệt liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đạo. Lệnh giải thể Hội Thánh đặt tôn giáo Cao Đài vào tình thế không còn cơ quan quyền lực tối cao. Trong khi ấy, một số tài sản của Đạo không bị tịch thu, và Hội Đồng Chưởng Quản được thành lập là để xử lý thường vụ và coi sóc các cơ sở đạo.

      Theo nhận định của một số người quan tâm đến tình hình tôn giáo Việt Nam, nhất là giai đoạn những năm đầu sau thời điểm 30-4-1975, Hội Đồng Chưởng Quản ra đời dựa trên 2 văn kiện của chính quyền tỉnh Tây Ninh thời ấy. Và cả hai văn bản này đều vô giá trị và vi hiến, chiếu theo hiến pháp và luật Việt Nam vào thời điểm ấy.
        Thứ nhất, xét đến “Bản Án” của Mặt trận Tổ quốc tỉnh Tây Ninh. Theo Điều 97 của Hiến Pháp 1959, vẫn còn hiệu lực cho đến năm 1980, chỉ có: “Toà án Nhân dân Tối cao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, các Toà án Nhân dân địa phương, các Toà án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt.” 

      Mặt Trận Tổ Quốc các cấp không có quyền này, và vì vậy không có tư cách ra bản án.

      Thứ hai, theo Điều 87, cũng của Hiến pháp 1959, thì “Uỷ ban Hành chính các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đồng Nhân dân địa phương, là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương.” Điều 89 của Hiến pháp 1959 xác định: “Uỷ ban Hành chính các cấp quản lý công tác hành chính của địa phương, chấp hành nghị quyết của Hội đồng Nhân dân cấp mình và nghị quyết, mệnh lệnh của cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên. Uỷ ban Hành chính các cấp chiếu theo quyền hạn do luật định mà ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những quyết định, chỉ thị ấy.” 

      Chiếu theo những điều vừa nói, thì Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Tây Ninh không có thẩm quyền ra bất kỳ quyết định nào liên quan đến Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ - một tôn giáo có tín đồ, không chỉ riêng ở Tây Ninh. Vì thế, việc ban hành quyết định này là một hành vi lạm quyền, mà khoa học pháp lý gọi là “bạo hành hành chánh”.

      Theo nhận định của những người Cao Đài nguyên thuỷ, thì tính bất chính thống của Hội Đồng Chưởng Quản còn nằm ở những quyết định của Hội Đồng. Những quyết định này đi ra ngoài qui định của Pháp Chánh Truyền, là giáo luật cao nhất của tôn giáo Cao Đài. Việc Hội Đồng Chưởng Quản ban hành hiến chương năm 1997 bị chỉ trích là đi ngoài hiến pháp đạo để lập ra luật mới.
        Vượt trên phân quyền, dân chủ
      Thủ tục ban hành hiến chương 1997 của Hội Đồng Chưởng Quản bị phản đối ở hai khía cạnh: vượt quyền qui định và vượt quá đạo luật, kinh lễ có tính cách nội qui. 

      Tính “vượt quyền” được phân tích sau đây qua nhận định của một chức sắc Cao Đài, Lễ Sanh Ngọc Sảnh Thanh.

      “Trong luật của đạo Cao Đài, điều gì cũng phải đủ 3 hữu đắc quyền với được thừa nhận. Nếu thiếu 1 quyền thì vô tác dụng đối với đạo. Quyền thứ nhất là quyền của vạn linh, tức của nhơn sanh trong hạ tầng. Quyền thứ 2 là quyền của Hội Thánh, tức là của chức sắc đạo từ hàng phẩm giáo hữu trở lên đến Chánh Phối Sư. Quyền thứ ba, quyết định, là quyền thượng hội, do nơi Giáo Tông Hộ Pháp quyết định. Phải có đủ 3 quyền thì mới có Tân Luật, có hiến chương. Thiếu 3 quyền này thì, phải nói thẳng, trong đạo, người tín hữu hiểu rõ luật đạo sẽ không thừa nhận.”
        Tính “vượt đạo và kinh lễ” được Sĩ Tải Huỳnh Văn Phan phân tích sau đây.

      “Hiến chương Hội Thánh gồm 12 chương, 27 điều, được lập ra do Hội Thánh dựa vào căn bản Tân Luật và Pháp Chánh Truyền đạo luật, các đạo nghị định. Hiến chương này không mang màu sắc chính trị, chỉ thuần tuý tôn giáo và không vi phạm vào hiến pháp và pháp luật bất cứ chế độ nào. 

      Điều 25 của hiến chương này nói rằng “để áp dụng hiến chương này, bản Tân Luật và Pháp Chánh Truyền đạo luật, kinh lễ có tính cách nội qui, nội luật.” Có nghĩa là đường lối của tôn giáo Cao Đài phải đi theo Tân Luật và Pháp Chánh Truyền đạo luật.”

      Cũng theo phân tích của tín hữu Cao Đài, thì cơ cấu quyền lực và sự phân quyền của Đạo là một trong các tính chất đặc trưng phản ánh tính dân chủ của Đạo nhằm tránh trường hợp độc quyền. Sự phân quyền này thể hiện rõ qua cơ cấu “Lưỡng Đài,” gồm Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài, tồn tại song song và có chức năng riêng biệt. Theo qui định của Pháp Chánh Truyền Cao Đài, phía Hiệp Thiên do một Hộ Pháp đứng đầu, đảm nhiệm những vấn đề liên quan đến luật Đạo. Còn phía Cửu Trùng thì lo về vấn đề hành chánh đạo, dưới quyền của một Giáo Tông.

      Nhưng thực tế hiện nay thì sao? Theo lời Sĩ Tải Phùng Văn Phan:

      “Hiện nay Hội Đồng Chưởng Quản nằm trong 1 người, nắm cả chính trị lẫn luật lệ. Pháp Chánh Truyền không cho phép 1 người nắm nhất thống. Ngay cả trong luật dị giáo tông cũng không có sự độc quyền, mà phải chia luật lệ và chính trị cho 2 phía nắm. Nay Hội Trưởng Hội Đồng Chưởng Quản nắm độc quyền đưa đến nhơn sanh không chấp thuận.”

      Một số người để tâm quan sát tình hình của đạo Cao Đài hiện nay nhìn nhận, rằng hình thức và bản chất của cuộc “tranh chấp” giữa một bên là Cao Đài nguyên thủy, với bên kia là Hội Đồng Chưởng Quản, mang nhiều điểm hết sức tế nhị mà người theo đạo bình thường không nhận biết được. 
        Cao Đài nguyên thủy và Hội Đồng Chưởng Quản
      Đối với đa số, đây là cuộc tranh chấp về quyền lợi và danh hiệu. Trên thực tế, những nhận định cho thấy, đây là cuộc tranh đấu bất cân xứng, đi tìm và bảo vệ quyền chính danh, để bảo toàn tính nguyên thuỷ của một tôn giáo.

      Cuộc tranh đấu này bất cân xứng vì đây không chỉ là sự đối kháng giữa những người từng là đồng đạo. Cuộc tranh đấu này bất cân xứng, vì có sự tham gia của một quyền lực khác: đó là Nhà Nước.

      Khi nhà nước chọn phương cách can thiệp vào tôn giáo, dường như mọi chuyện sẽ trở nên phức tạp hơn.

      Lịch sử có thể cung cấp nhiều minh chứng cho điều này.

      Có thể thấy rằng, câu chuyện của Cao Đài không phải là vấn đề nội bộ của tôn giáo này. Câu chuyện Cao Đài trở nên phức tạp vì sự tham gia, trực tiếp hoặc gián tiếp, của chính quyền vào vấn đề tôn giáo. Cho đến thời điểm này, vẫn chưa có dấu hiệu cho thấy những tranh chấp sẽ được giải quyết, Hội Thánh sẽ được phục quyền, Tân Luật và Pháp Chánh Truyền sẽ được tôn trọng. Ai cũng hiểu rằng muốn giải quyết rốt ráo vấn đề, thì các phe liên hệ phải ngồi lại đựơc với nhau để thẳng thắn đối thoại một cách bình đẳng với sự trung gian vô tư của nhà nước. 

      Nhà nước là thẩm quyền thi hành luật, nhưng luật và thẩm quyển chỉ là điều kiện cần, Trong khi đó, ý chí và sự tôn trọng tinh thần  pháp quyền mới là điều kiện đủ để tôn giáo được trả về vị trí nguyên thuỷ của một tín ngưỡng.

      Đài Á Châu Tự Do mong mỏi quý thính giả có liên quan đến vấn đề đóng góp thêm ý kiến. Xin hãy gọi 202 530 7775 và để lại lời nhắn. Từ Vịêt Nam thì thêm số 011 ở đầu, hoặc thư cho chúng tôi về địa chỉ vietweb@rfa.org.
    • “Bản Án Cao Đài” năm 1978 của Mặt Trận Tổ Quốc Tỉnh Tây Ninh là văn kiện đầu tiên làm nền tảng giải thể Hội Thánh Cao Đài . Văn bản này qui rằng: “mọi người đều có tội. Không ai vô tội. Mọi tài sản đều bị tịch thu.” RFA
      2008-06-20
        Tín đồ Cao Đài hành lễ giờ trưa hàng ngày tại Thánh thất ở Tây Ninh. photo courtesy of Nguyễn Tín vRFA_CaoDai 2_080618p.mp3
          Trong một diễn biến liên quan, năm 1982, một số chức sắc đạo Cao Đài đã viết bản “Cải Án,” để phản biện bản án năm 1978. Bản cải án nói rằng văn kiện 1978 là sự kết tội không có phiên tòa, gây tác hại vật chất, nhưng “phần tín ngưỡng vẫn nguyên vẹn”.  Ban việt ngữ đài Á Châu Tự Do tìm hiểu và đối chiếu Bản Án 1978 với Bản Cãi Án 1982, trình bày trong bài thứ nhì của loạt 4 bài. "Bản Án Cao Đài" năm 1978 từ chính quyền Tỉnh Tây Ninh Ngày 20-9-1978, tức là chỉ hơn 3 năm kể từ khi thống nhất Việt Nam, chính quyền thời ấy, thông qua Mặt Trận Tổ Quốc Tỉnh Tây Ninh, cho phổ biến một văn kiện mang tên “Bản Án Cao Đài,” làm văn tự căn bản bắt đầu quá trình giải thể Hội Thánh Cao Đài và tịch biên một số tài sản của Đạo. Bản án, mở đầu bằng lời giới thiệu mang tính chất của một kết luận, viết nguyên văn: “Đạo Cao Đài Tây Ninh ngày thành lập đến nay đã 52 năm. Trên nửa thế kỷ qua, một số tên trong những người cầm đầu giáo phái này không ngừng lợi dụng xương máu, mồ hôi, nước mắt của tín đồ, mà tuyệt đại bộ phận là nông dân và nhân dân lao động yêu nước, để làm hậu thuẫn chính trị phản động cho các đế quốc xâm lược nước ta qua thời kỳ lịch sử của dân tộc.” Một năm sau ngày công bố Bản Án, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bị chính quyền cưỡng bách giải thể. Đồng thời, một phần lớn tài sản của Đạo cũng bị cưỡng chế. “Những năm 1979, 1980, do tình hình đất nước thay đổi, Ngài Mở Đạo và Ngài Đầu Sư ra Đạo Lệnh 01 giải thể Hội Thánh từ trung ương đến địa phương, đồng thời thành lập Hội Đồng Chưởng Quản. Hội Đồng Chưởng Quản chỉ có tư cách coi sóc cơ ngơi của đạo chứ không hoạt động tôn giáo.” Phát biểu của Sĩ Tải Phùng Văn Phan, một chức sắc Cao Đài hiện đang sinh sống tại Việt Nam cho thấy, Hội Đồng Chưởng Quản là cơ quan ra đời trong bối cảnh đạo Cao Đài không còn Hội Thánh cùng các cơ quan quyền lực quan trọng được xây dựng theo giáo luật, gồm có Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Phước Thiện. Nội dung Bản Án 1978 Bản Án năm 1978 gồm trên 5 ngàn chữ, phân tích 4 giai đoạn thành hình và hoạt động của Đạo Cao Đài. Các giai đoạn này, theo nguyên văn Bản Án, bao gồm, “Thời Kỳ Thành Lập” từ 1926 đến 1938, “Thời Kỳ Làm Tay Sai Cho Phát Xít Nhật” từ 1939 đến 1945, “Thời Kỳ Làm Tay Sai Cho Đế Quốc Mỹ và Ngụy Quyền Miền Nam” từ 1956 đến 1975, và Thời Kỳ từ 30 tháng Tư, 1975 đến thời điểm ra đời bản án, tức tháng 9 năm 1978.
      Sau những phân tích nhằm chứng minh rằng, những chức sắc cao cấp, trong đó có cả những vị khai sáng Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là tay sai cho Pháp, Nhật, Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam, Bản Án đưa ra một số kết luận. Các kết luận ấy, phần lớn nhằm vào những người khai sáng đạo và các chức sắc cao cấp của Đạo, viết nguyên văn rằng: “Đạo Cao Đài là một tổ chức chính trị đội lốt tôn giáo, lợi dụng niềm tin của quần chúng và làm tay sai cho đế quốc.” Dựa trên lập luận rằng, đạo Cao Đài đi theo đế quốc để đối lấy quyền lợi, nhận tài trợ từ đế quốc và Ngụy Quyền, chính quyền tỉnh Tây Ninh ra lệnh tịch thu “tài sản, dinh thự, các cơ sở kinh doanh của Hội Thánh” với lý do đây “không phải là của riêng ai, mà là tài sản của đế quốc đã rút chạy để lại”. Trên căn bản này, chính quyền tuyên bố cần phải “tước đoạt những phần tài sản của chức sắc do tham ô, ăn cắp, và dựa thế lực đế quốc tạo ra”. Một năm sau, chính quyền công bố quyết định 124/QĐ-UB, ra lệnh giải thể Hội Thánh và guồng máy hành chánh của Đạo từ trung ương đến địa phương. Một phần lớn tài sản của đạo Cao Đài cũng bị sung công quỹ. Một tín hữu Cao Đài, hiện vẫn còn sinh sống tại Việt Nam, phân tích: “Hội Thánh có thể chứng minh ai là sở hữu chủ của Tòa Thánh. Bằng chứng thứ nhất, toàn bộ cơ sở có từ năm 1926. Thứ hai là toàn bộ cơ sở đều có tên với 6 đại tự “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.” Tài sản này đã được công bố ngay từ khi lập đạo năm 1926 chứ không phải đợi đến năm 1965. Bây giờ chính quyền Việt Nam thường hay nói rằng pháp nhân 1965 là do Đệ Nhị Cộng Hòa ban, nên họ không chấp nhận, phải xoá đi. Như vậy là họ chụp ngang một giai đoạn. Hai sự kiện chứng minh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có từ năm 1926 là tờ khai đạo với chính phủ Pháp, và cuộc lễ xã hội hóa trước xã hội vào ngày 15 tháng 10 năm 1926. Con dấu thì được đăng ký với chính quyền thời Pháp thuộc.” “Bản Cãi Án Cao Đài” năm 1982 của một số chức sắc Cao Đài
      Bốn năm sau khi chính quyền công bố Bản Án, ngày 3-5-1982, một số Sĩ Tải chức sắc của Hiệp Thiên Đài cho công bố 
      một văn bản gởi một số cơ quan và cá nhân, trong đó có Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, tức thủ tướng, và Chủ Tịch Hội Đồng Nhà Nước, tức chủ tịch nước.    Văn bản có tên “Bản Cãi Án Cao Đài” phản bác những cáo buộc nêu ra trong Bản Án năm 1978, đồng thời nói rõ rằng: “Đạo Cao Đài trải qua cuộc khủng hoảng trầm trọng nhứt trong lịch sử Đạo, do Bản án của Mặt Trận Tổ quốc tỉnh Tây Ninh đề ngày 20-9-1978, lên án các bậc tiền bối có công khai sáng mối Đạo…” Ông Nguyễn Thanh Liêm, một hiền tài của Đạo Cao Đài, nhớ lại: “Các vị Sĩ Tải đó là chức sắc của Hiệp Thiên Đài, tức là người nắm luật của Đạo. Khi bản án Cao Đài được ban ra, thì các chức sắc này làm bản cải án cho thấy không bằng lòng với bản án. Bản án đó lên án các chức sắc của Đạo là phản Cách Mạng, và vì vậy nên đồng đạo không bằng lòng.”   Bản Cãi Án viết rằng, văn kiện tố giác các tiền bối Cao Đài không có chứng tích xác thật, mà chỉ ghép thành một “Bản án” không có phiên toà xét xử, và bị cáo là những vị đã qua đời từ lâu.  Các tác giả của Bản Cãi Án viết rằng họ “không vội vàng để chờ xem kết quả của Bản Án, và nay mọi diễn biến đã an bày, bản án cùng với thời gian lùi vào quá khứ,” hệ lụy từ Bản Án năm 1978 gây ra cho đạo Cao Đài, không gì khác hơn, là “Những tín hữu không đồng ý với Bản án bị bắt bớ, giam cầm”, “Hội Thánh bị giải thể cùng với ba cơ quan Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài và Phước Thiện để thành lập “Hội Đồng Chưởng Quản” thay thế. Cùng với sự giải tán Hội Thánh, “nhiều dinh thự nội ô Toà Thánh cùng các động sản, bất động sản của Đạo đã bị trưng dụng.” Bản Cãi Án xác định giá trị tâm linh trong hành đạo Tuy nhiên, kết luận quan trọng và có lẽ gây khó chịu cho chính quyền lại nằm ở phần tâm linh của Bản Cãi Án. Kết luận đó là, “phần tinh thần tín ngưỡng vẫn nguyên vẹn, vì nó ở trong tâm khảm của mỗi người”, và “Chánh quyền Cách mạng làm mất cảm tình của 3 triệu tín đồ Cao Đài mà từ năm 1975 đến nay họ an tâm làm công dân nước Việt Nam mới Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa, không có hành vi chống đối hay đố kỵ.”   Một trong những điểm khiến tín hữu Cao Đài đau lòng, là Bản Án năm 1978 lên án những nhân vật khai sáng Đạo, trong đó có Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, là tay sai cho Pháp, Nhật, Mỹ. Một đạo hữu Cao Đài nói rằng, với Bản Án năm 1978, “chức sắc nào cũng là tay sai. Ai cũng có tội. Không ai vô tội. Từ chỗ đó, mọi tài sản bị sung công.” Đến năm 2006, chính quyền Việt Nam đã cho đưa liên đài của nhân vật mà trước đó gần 30 năm họ kết án là “phản quốc,” từ Cambodia trở về Việt Nam, nhập Bửu Tháp tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đó là trường hợp của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Người đạo hữu bày tỏ: Chính quyền hồi phục lễ miễu năm 2006
      “Tới năm 2006, họ lại rước liên đài ông Phạm Công Tắc về. Nói về mặt luật pháp, thì sao năm 1978 anh nói họ phản quốc, rồi nay rước họ về với nghi thức linh đình, cho nhập Bửu Tháp mà không có văn bản nào xoá án hay xin lỗi là nói sai? Đây là chính sách 2 mặt. Một mặt có tội, để lấy tài sản, bỏ tù, giải tán, mặt khác rước người ta về để nói là có tự do tôn giáo.” Năm 2006 cũng là năm Việt Nam vận động để được rút tên ra khỏi danh sách các quốc gia được quan tâm đặc biệt vì tình trạng vi phạm nhân quyền, dân quyền và tự do tôn giáo. Bản Án năm 1978 không phải là hành động duy nhất kết án, và qua đó, giải thể Hội Thánh, sung công tài sản. Từ thời điểm công bố văn kiện “Bản Án Cao Đài,” tôn giáo có lịch sử từ những năm 1920 còn trải qua nhiều thăng trầm khác. Những thăng trầm của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, từ đây không xuất phát trực tiếp từ văn kiện chính thức của nhà nước, nhưng có nguồn gốc từ những chia rẽ, bắt đầu từ thời điểm công bố Bản Án 1978, và qua đó, là sự ra đời của Hội Đồng Chưởng Quản. Từ đây, những tín hữu Cao Đài nguyên thủy bắt đầu một cuộc tranh đấu mới, với phía bên kia là những người một thời từng là đồng môn, đồng đạo. Trong phần 3 của loạt 4 bài, ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự Do sẽ lần lượt ôn lại những thời điểm quan trọng trong quá trình 30 năm kể từ ngày ra đời của Bản Án. Các thời điểm này phản ánh những thay đổi trong cuộc tranh đấu của những tín hữu Cao Đài nguyên thuỷ. Và những thay đổi này, một cách tất yếu, bắt nguồn từ sự thay đổi trong chính sách quản lý tôn giáo của chính quyền.
       
    • Một Bữu tượng Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc bị đem ra khỏi một Thánh Thất Cao Đài tên là Thánh Thất Kim Biên tại thủ đô Phnom Penh. Theo thông tin của tờ Phnom Penh Post thì Bữu tượng này được một nhóm tín đồ Cao Đài người Mỹ gốc Việt dựng nên vào năm 2015, đồng thời nhóm này cũng gây quĩ để giúp đỡ Thánh Thất Cao Đài này. Vào tháng giêng năm nay một phái đoàn của Tòa Thánh Cao Đài ở Tây Ninh đã đến trình bày những qui tắc tôn giáo của họ với nhà cầm quyền địa phương và đã được phép mang pho tượng đi. Tòa Thánh Tây Ninh trên danh nghĩa là nơi điều hành tất cả các Thánh Thất Cao Đài trên khắp thế giới. Tờ Phnom Penh Post trích lời một số chuyên gia về đạo Cao Đài tại Hoa Kỳ, rằng những người muốn Bữu tượng Đức Ông Phạm Công Tắc được thờ phụng cho rằng Tòa Thánh Tây Ninh chỉ là con rối của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội. Xin được nhắc lại là Đức ông Phạm Công Tắc từng làm giáo chủ của đạo Cao Đài trong một thời gian dài, và ông được nhà vua Cam Pu Chia là Sihanook cho dựng một ngôi Thánh Thất Cao Đài tại thủ đô Phnom Penh vào năm 1927. Sau đó Đức Ông Phạm Công Tắc sống lưu vong chính trị tại Cam Pu Chia cho đến lúc mất vào năm 1959. Năm 2006 Liên Đài của ông được chính quyền Việt Nam đem về Nhập Bữu Tháp tại Tòa Thánh Tây Ninh. (RFA)    
    • Người dân ở xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế, sáng 23/03 bị báo động khi thấy cả một vùng nước ven chuyển màu vàng.   Vùng biển Thừa Thiên Huế bị phủ ngập bởi chất lạ màu vàng
      (Ảnh: VNExpress) Báo mạng VnExpress dẫn lời ông Phan Thanh Vinh, một công nhân nạo vét luồng lạch gần cảng Chân Mây – Lăng Cô, cho biết trong khi lội xuống biển để làm việc, ông thấy người ngứa ngáy nên phải tạm nghỉ làm và lên bờ. Nhiều người dân khác cho biết sờ vào nước vàng thấy nhờn.   Theo ông Nguyễn Văn Nghị, 63 tuổi, cư dân xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, những vệt nước màu vàng đặc quánh đã tràn vào khu vực cảng từ khoảng 5 giờ 30 sáng. Ông Nghị kể vào lúc sáng sớm nước có màu vàng đặc quánh, đến gần trưa thì nước nhạt dần. Theo ông, khu vực này từng nhiều lần xuất hiện những dải nước màu đỏ, nhưng nước màu vàng thì đây là lần đầu.   VnExpress cho biết dải nước màu vàng theo luồng lạch đã tiến vào gần khu vực nuôi tôm của người dân. Giám đốc Sở Tài Nguyên Và Môi Trường tỉnh Thừa Thiên-Huế, ông Phan Văn Thông, cho biết sở sẽ lấy mẫu nước để tìm nguyên nhân.   Mời xem Video: 7 nội dung tuyệt mật do phe Tổng BT Trọng tung tin bôi nhọ Ba Dũng và tay chân trước Hội nghị TW 5?     Ô nhiễm môi trường đang dần trở thành quốc nạn ở Việt Nam. Thảm họa ô nhiễm biển miền Trung do nhà máy thép Formosa ở Hà Tĩnh xả thải bừa bãi gây ra hồi tháng Tư năm ngoái vẫn còn để lại hậu quả nghiêm trọng, gây xáo trộn cho đời sống của ngư dân nhiều tỉnh. Trong khi đó, những trường hợp xả chất thải gây ô nhiễm môi trường riêng rẽ khác do nhà cầm quyền thiếu kiểm soát vẫn đang xảy ra khắp nơi.   Huy Lam   (SBTN)
    • Trong một xã hội công an trị như ở Việt Nam, khi mà "Chính trị là thống soái", thì việc một clip mang tính định hướng chính thức cho lớp cán bộ nguồn dự trữ kế cận lãnh đạo của lực lượng công an Việt Nam, nên chắc chắn nó là những thông tin bí mật, không được phép phổ biến cho dư luận xã hội và quốc tế được biết. Hơn nữa, Thiếu tướng Trương Giang Long trong vai trò Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND, kiêm Giám đốc Học viện Chính trị CAND, phát biểu lập trường của Bộ Công An về quan hệ đối ngoại của nhà nước Việt Nam là điều hết sức bất bình thường.
          Mới đây, dư luận xã hội xôn xao về việc xuất hiện một video của Thiếu tướng công an Trương Giang Long - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND, kiêm Giám đốc Học viện Chính trị CAND, phát biểu về quan hệ đối ngoại của nhà nước Việt Nam. Cụ thể hơn là các mối quan hệ Hoa kỳ - Việt Nam -Trung Quốc, cũng như Lào hay Campuchia. Điều đáng chú ý và dễ thấy nhất là, trong bài phát biểu này, các quan hệ của Việt Nam với các nước lớn và trong khu vực hoàn toàn khác với những gì nhà nước Việt Nam tuyên truyền cho dân chúng bấy lâu nay.   Nếu chính trị là các vấn đề liên quan đến việc giành và giữ quyền lực. Thì trong chính trị, yếu tố chủ quan là cơ bản và hết sức quan trọng, tất nhiên các yếu tố khách quan dù chỉ đóng vai trò thứ 2, song vấn đề các bối cảnh liên quan cũng không thể bỏ qua. Điều đó cho thấy, việc tung clip video  bài nói chuyện nội bộ của Thiếu tướng Trương Giang Long là điều hoàn toàn có chủ đích của một thế lực chính trị lớn, mạnh trong nội bộ Đảng CSVN.   Cụ thể hơn là phe Công An của Chủ tịch Nước Trần Đại Quang và đứng đằng sau, người ta thấy thấp thoáng hình ảnh của cựu Thủ tướng Ba Dũng. Vấn đề này chắc chắn không liên quan gì đến phong trào Tổng Biểu tình do Linh Mục Nguyễn Văn Lý phát động trong thời gian vừa qua. Vì tầm vóc cũng như quy mô của 3 cuộc biểu tình trong những ngày Chủ Nhật 5 - 12 - 19/3/2017 vừa qua, đã cho thấy an ninh chính trị sẽ không hề hấn gì như một số nhà bình luận lề trái nhầm tưởng.   Xem clip video ghi âm bài nói chuyện của tướng Trương Giang Long sẽ thấy, từ hình ảnh, âm thanh, ánh sáng và độ ổn định. Điều đó đã cho thấy clip này là do những người chuyên nghiệp thực hiện. Có nghĩa là clip này được quay công khai có chủ đích, chứ  không chỉ đơn thuần là quay để lưu trữ hay quay trộm.    Về thời điểm của buổi nói chuyện, nếu dựa vào chi tiết mà diễn giả - Thiếu tướng Trương Giang Long có nhắc đến chi tiết thông cáo việc ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thăm Hoa Kỳ từ ngày 24-30/10/2016. Như vậy thì có thể thấy, buổi nói chuyện này xảy ra vào đầu tháng 11/2016. Đó là thời điểm trước chuyến thăm của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, sang thăm chính thức Trung Quốc lần đầu tiên trong cương vị Tổng Bí thư  nhiệm kỳ thứ 2, từ ngày 12 - 15/1/2017.   Không phải ngẫu nhiên mà, ở phần mở đầu bài nói chuyện bắt đầu ngay bằng câu nói của Thiêu tương Trương Giang Long (chi tiết) rằng: “Trung Quốc, tôi xin thưa các đồng chí là, không bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính chủ quyền của chúng ta ở Biển đông, không bao giờ từ bỏ dã tâm này. Mà cái này không phải chỉ thời ông Tập Cận Bình đâu, ông khác lên cũng sẽ như vậy thôi. Câu chuyện là, bao giờ họ sẽ lấy và lấy bằng cách nào… Thưa các đồng chí, chính vì vậy mà chúng ta không loại trừ cái việc mà họ tìm mọi cách làm suy yếu từ bên trong. Chúng ta không loại trừ, chúng ta phải nói rõ với nhau như thế.”   Cũng xin cần được nhắc lại, theo các nguồn tin khả tín từ nội bộ Đảng CS cho hay, tại Đại Hội Đảng CSVN lần thứ 12, do bế tắc trong vấn đề nhân sự cao cấp nên, các phe phái trong đảng đã thống nhất (thỏa hiệp) phương án để Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ tiếp tục giữ chức vụ Tổng Bí thư thêm nửa nhiệm kỳ. Và vấn đề này sẽ được đưa ra bàn thảo tại Hội nghị Trung ương lần thứ 5 sẽ dự kiến diễn ra vào đầu tháng 5/2017 sắp tới. Nghĩa là việc Tổng Bí Thư Trọng ở lại tiếp hay ra đi sẽ được định đoạt trong thời gian không xa.   Điều đó cho thấy, clip videp của Thiếu tướng Trương Giang Long được bất ngờ tung lên vào thời điểm những ngày vừa qua xuất phát từ chủ ý của lãnh đạo phe Công An trong đảng CSVN. Cụ thể là, hòng dọn đường tạo dư luận xã hội rằng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một phần tử thân - thậm chí là nội gián của Trung Quốc   Chi tiết Thiếu tướng Trương Giang Long nói rằng “Cho nên tôi xin nói với các đồng chí là, bọn xấu nó cài cắm, nó móc ngoặc nó lôi kéo hồi xưa chỉ một vài người là đã nguy hiểm rồi, đã chết rồi. Bây giờ tôi thông báo với các đồng chí là nó đã có đến con số hằng trăm. Mà hàng trăm không phải chỉ là con số dừng lại ở hàng trăm, mà trăm này có thể cộng với trăm kia nữa chứ không phải chỉ trăm". Nghĩa là tướng Trương Giang Long nói về vấn đề nội gián trong ban lãnh đạo đảng CSVN, chứ không phải hoàn toàn nhắc đến các nhân vật chống đối khác.   Việc Tướng Trương Giang Long dùng từ "móc ngoặc" hay "lôi kéo", thì rõ ràng Trung Quốc không chỉ lôi kéo mà còn móc ngoặc các thành phần nói trên. Mà trong thực tế đã cho thấy, Trung Quốc đã và đang lôi kéo đến hàng trăm các cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh huyện và trung ương, là những người có quyền lực và có ảnh hưởng hoặc quyền chi phối quốc gia. Đó chính là điều Thiếu tướng Trương Giang Long đã gián tiếp thừa nhận, nguy cơ ở mọi cấp đều có gián điệp, tay sai tiếp tay cho Trung Quốc. Kể cả trong Ban lãnh đạo cao cấp nhất là Bộ Chính trị. Chữ "một vài" mà tướng Long dùng trong câu "nó cài cắm, nó móc ngoặc nó lôi kéo hồi xưa chỉ một vài người là đã nguy hiểm rồi, đã chết rồi", dễ làm người ta liên tưởng đến Thiếu tá Hồ Quang hay người bạn chí cốt của ông ta là Phó Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam -  ông Hoàng Văn Hoan, đã từng bị tuyên án tử hình vắng mặt. (!?)   Không phải ngẫu nhiên mà Thiếu tướng Trương Giang Long khẳng định rằng, “cán bộ chủ chốt chúng tôi được nghe đồng chí lãnh đạo cấp cao của ngành thông báo là chúng ta đang theo dõi, đang nắm rất chắc, rất chặt những cái diễn biến của các phần tử cơ hội chính trị mà có cái mưu toan móc ngoặc cấu kết với bên ngoài, do bên ngoài moắc ngoặc cấu kết để mà lật đổ, chống phá chế độ chúng ta. Những cái bộ phận ấy nó là ngòi nổ cho các cuộc bạo loạn, cho các cái điểm nóng chính trị. Mà chúng ta đó, thưa với các đồng chí, không thể xem thường và coi nhẹ!"   Nếu không phải viên tướng Công an cảnh báo các nguyên nhân về các vấn đề Việt Nam ngày càng tồi tệ và quá phụ thuộc vào Trung Quốc. Việc các tướng lĩnh quân đội Việt Nam trước đây và hiện nay, bị bắt buộc phải sang Trung Quốc dự các khóa huấn luyện dài hạn, ngắn hạn là vấn đề ví dụ. Chưa hết, trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 1/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký 15 văn kiện hợp tác, trong đó có văn kiện về việc sẽ tổ chức thường xuyên cho cán bộ cấp cao của đảng CSVN sang Trung Quốc để đào tạo thêm. Yếu tố logic của Tướng Trương Quang Long cho chúng ta thấy như vậy.   Trong những ngày vừa qua, trận chiến quyền lực giữa các phe phái trong nội bộ đảng CSVN bỗng nóng lên trên các trang báo của Nhà nước. Như các vụ việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với sự tiếp sức của Tư Sang, thông qua Nguyễn Công Khế cựu Tổng Biên tập của báo Thanh Niên lôi vụ việc bồ nhí Bí thư Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến; hay vụ xe công dùng biển xanh "giả" của Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh bị phanh phui thì vụ Huỳnh Đức Thơ sở hữu một khối tài sản khủng được đáp trả v.v... và v.v...   Tiện đây cũng xin được nói thêm, vụ đánh Bí thư Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến có bồ nhí được thăng tiến thần tốc vùa qua, cũng xuất phát từ mâu thuẫn giữa ông Nguyễn Phú Trọng và cựu Trưởng Ban Tổ chức TW Tô Huy Rứa. Vì Tô Huy Rứa "can tội" ngoài mặt thì vâng dạ, thân thiết với Tổng Trọng, nhưng sau lưng thì cấu kết với Ba Dũng "xúi" ông Bảy Chắc - Bí thư Tỉnh Hậu Giang, công khai "chửi" Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giữa Hội nghị Trung ương 14 - Khóa XI.   Nói thế để thấy, Tổng Trọng dám đánh Trịnh Xuân Thanh, Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang mà không sợ vỡ bình. Trong khi, trên thực tế, có tới 70% các quan chức ở Việt Nam hiện nay đâu có khác gì Trịnh Xuân Thanh mà sao Tổng Trọng không dám động đến? Đó chính là lý do vì sao ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng phải khẳng định "Xử lý một vài người để cứu muôn người" chứ không phải là "Xử lý triệt để tất cả những ai có vi phạm".   Mời xem Video: NÓNG: Tổng BT Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Ủy ban Kiểm tra TW xử lý Bộ CA và Tướng Trương Giang Long?
          Trong một xã hội công an trị như ở Việt Nam, khi mà "Chính trị là thống soái" thì việc một clip mang tính định hướng chính thức cho lớp cán bộ nguồn dự trữ kế cận lãnh đạo của lực lượng công an Việt Nam, nên chắc chắn nó là những thông tin bí mật, không được phép phổ biến cho dư luận xã hội. Nhiều nhân vật cao cấp trong đảng không bao giờ muốn các thông tin như thế bị lộ ra cho công chúng và quốc tế được biết. Hơn nữa, Thiếu tướng Trương Giang Long trong vai trò Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND, kiêm Giám đốc Học viện Chính trị CAND, phát biểu lập trường của Bộ Công An về quan hệ đối ngoại của nhà nước Việt Nam là điều hết sức bất bình thường.   Nó cho thấy, sự công khai về sự bất đồng về quan điểm trong các chủ trương, cũng như các chính sách lớn trong nội bộ Ban lãnh đạo đảng CSVN. Và chắc chắn đây sẽ là một sợ dây cháy chậm, còn tiếp tục âm ỉ và bùng phát tại Hội Nghị Trung ương 5 - Khóa 12 sắp tới.   Ngày 24 tháng 03 năm 2017   © Kami

      (Blog RFA) 
    • RFA
      2017-03-23
        Chiến hạm Nhật Izumo neo tại Căn cứ Yokosuka ở tỉnh Kanagawa vào ngày 6 tháng 12 năm 2016.  AFP photo       Trung Quốc hôm thứ Năm 23 tháng 3 lên tiếng hy vọng lịch sử chiến tranh trong quá khứ của sẽ không lập lại sau khi tàu sân bay trực thăng lớn thứ hai có tên Kaga của Nhật được đưa vào sử dụng. Tàu sân bay Kaga cùng với tàu sân bay Izumo cho phép quân đội Nhật có khả năng triển khai sức mạnh xa bờ, chống lại sự bành trướng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Châu Á. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, bà Hoa Xuân Oánh, nói rằng trong những năm gần đây, Nhật Bản đã dùng cái được gọi là “thảm hoạ Trung Quốc” như một lý do để phát triển quân đội của họ. Bà Hoa kể lại một câu chuyện trong quá khứ, tàu cũng mang tên Kaga của Nhật bị quân đội Mỹ đánh chìm trong 1 cuộc chiến thuộc chiến tranh thế giới thứ 2, có ý nhắc nhở Nhật Bản đừng quên bài học đó.   Ý kiến (1)  Bấm vào đây để nêu ý kiến của bạn In trang này Chia sẻ Email PigDogCat Khi thấy Hàng không Mẫu hạm trực thăng của Nhật. Trung quốc lại nhớ đến Thế chiến thứ II. Nhật một nước nhỏ dân số chưa bằng 1/10 của Trung Hoa nhưng đã chiếm trọn miền Đông Bắc và Đông Nam Trung Hoa và nhân dân Trung Hoa chịu sư cai trị của Nhật. Chính vì vậy mà giờ đây khi thấy Nhật trong một thời gian ngắn đã sử dụng 2 tàu sân bay làm Trung Quốc phải lo sợ. 
      Nhật không khoe khoảng về vũ khí nhưng một khi Trung Quốc biết được thì đã muộn. 23/03/2017 23:39   Nghe trực tiếp từ 9-10 giờ tối (giờ VN) Nghe các chương trình mới nhất       Nhắn gửi của nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Thanh Giang Những khối tài sản kếch xù: “Có dấu hiệu bao che!” Đoàn Thị Hương đã bị con trai cựu đại sứ Bắc Hàn dụ dỗ Câu chuyện những bài hát bị cấm Chế độ ăn giúp hạn chế nguy cơ bị bệnh thận           TIN, BÀI ĐÁNG CHÚ Ý
      Biển Đông dậy sóng và mối quan hệ tay ba Mỹ-Việt-Trung
      Tại sao người Việt lại vượt biên, lại bị bắt...
      Những đấu đá tranh giành quyền lực trong nội bộ lãnh đạo Việt Nam   Nội dung Tin Việt Nam
      Tin Quốc tế
      Thời Sự
      Tạp Chí
      Tường trình từ Việt Nam
      Tranh chấp Biển Đông
      Video
      Blog
      Bạn đọc viết
      Tư Liệu Các ngôn ngữ







      Nghe Đài/Xem video Nghe trực tiếp
      Nghe các chương trình mới nhất
      Chương trình lưu trữ
      Truyền hình RFA
      Chương trình Podcast
      Lịch phát sóng/ Tần số Mạng xã hội RFA RFA blog
      RFA tv
      Facebook
      Twitter
      RFA Wordpress
      Google+
      Gửi tin tức/video đến RFA
      Nhận tin tức từ RFA
      Báo tin cho RFA Về RFA Về RFA
      Quy tắc đạo đức nghề nghiệp
      Nguyên tắc sử dụng
      Nguyên tắc tư riêng
      Sơ đồ trang web
      Hỗ trợ kỹ thuật
      Vượt tường lửa
      Liên lạc
      Đài phát thanh quốc tế tại Hoa Kỳ
      Ban Việt ngữ VOA              
    • Thanh Trúc, phóng viên RFA
      2017-03-23
        Học sinh Việt tại lớp học của Vì Dân Foundation ở tỉnh Kompong Chnang.  Hình do Vì Dân Foundation cung cấp. Cuộc sống người Việt ở Campuchia
              Campuchia là đất nước có nhiều người Việt sang lập cư từ trước và sau chiến tranh, ba bốn thế hệ nối tiếp nhau sinh  ra và lớn lên nhưng không giấy tờ tùy thân và cũng không bao giờ được công nhận là người bản xứ. Lênh đênh vô định Ông Butmao Sourn, giám đốc MIRO, một tổ chức thiện nguyện nước ngoài ở Campuchia, chuyên giúp đỡ những di dân không có giấy tờ và không có được nơi định cư bền vững, cho biết: Cuộc sống của người Việt tại Campuchia phần lớn chưa có dấu hiệu ổn định, dễ gặp nguy  hiểm. Vì không có giấy tờ hợp pháp nên họ khó hội nhập. Có người sống lâu năm ở đây khi về Việt Nam cũng không được chính quyền bên ấy công nhận. Một  người Việt sống trên vùng Biển Hồ ven tỉnh Pursat kể lại hoàn cảnh bấp bênh, gạo chợ  nước sông của người Việt  nơi đây: Tôi Huỳnh Văn Đàn, ở tỉnh Pursat lâu rồi, bà con ở đây làm nghề cá không, giăng lưới giăng câu, giăng được thì đủ ăn, có bữa không đủ ăn. Ở dưới biển chứ có đất có cát gì đâu mà trồng trọt, chỉ giăng lưới giăng câu vậy thôi, coi như nghèo hết 90% rồi. Con thì cũng có một số đi học một số không bởi vì quá nghèo không xuống không ghe không đi học được. Trường đó là trường ở dưới nước, kêu bằng trường nổi, học sinh bơi xuồng lại đó học. Phải ở trên bờ còn có tương lai, ở dưới nước thì đâu có tương lai. Ở bờ thì thường có đoàn lại giúp, các nhà hảo tâm, các nhà từ thiện có nhiều, còn ở dưới nước ít đoàn lại lắm. Cơ cực  như vậy nên nhiều người cũng rất muốn về dưới, tức là về Việt Nam theo cách nói của họ. Ngặt nỗi không có giấy tờ tiền bạc để về, ở lại thì phải chịu cảnh o ép của chính quyền địa phương: Cũng muốn về dưới ở mà không đất không cát, không giấy tờ hợp lệ, không tiền mua đất thì cũng khổ lắm. Đây chắc không có tương lai đâu, sống ở ngoài Biển Hồ thấy cái nhà nó càng ngày càng hư thêm, quan quyền nó gò bó . Tới nay xóm này ra làm nghề bị bắt bỏ tù hết mấy chục người. Nhà nước bây giờ nó bó buộc dân mình, đuổi thì không đuổi mà gò bó như là muốn đuổi khéo. Ông Ngô Văn Ly, sinh ra và lớn lên ở tỉnh Pursat, từng chạy về Việt Nam những năm sau 1975 để lánh nạn, đến 1981 thì trở qua Campuchia vì không có đường làm ăn ở quê nhà, nói rằng người Việt ở Biển Hồ đôi khi gần như cô lập bởi con nước lớn hay con nước cạn: Việt Nam tại tỉnh Pursat này là 1.700 hộ, nhưng mà tính theo vùng biển  thì cở 3.000 hộ lận. Bà con chỉ sống dưới mặt biển chứ không có bờ đâu. Mùa này thì cứ theo mực nước mà đi ra giăng lưới giăng câu để kiếm sống. Mần được ngày nào thì mua gạo ngày nấy, còn muốn đi chợ thì chạy máy hai tiếng đồng hồ mới tới bến chợ. Anh em giăng lưới giăng câu ngày hên thì mua đủ năm ba ký gạo, mần được nhiêu mua nhiêu, còn thất thì lỗ tiến xăng đi về luôn. Nhà nước Campuchia giờ mình không hiểu cái luật của ảnh, giờ tới mùa lưới ảnh  xuống anh dẹp. Xóm của tôi bị bắt  hết 13 người mà  không có tiền để chuộc ra. . Đôi lúc đột xuất quá, sợ bị bắt bị buộc  thì cũng có người trốn về dưới bảy tám chục gia đình rời. Đi không xong ở cũng không xong Vì không có giấy tờ hợp lệ, trẻ con người Việt ở Biển Hồ  không được đi học. Là người trông coi một lớp dạy chữ Việt và chữ Khmer cho con em người Việt mà khởi  đầu do người Việt Nam ở nước ngoài tài trợ, ông Ly cho biết thêm: Chỗ tôi ở rặt Việt Nam không, Campuchia chỉ có ba bốn gia đình, có phái đoàn của Anh, của Mỷ và Canada  cho được cái trường bề ngang 6 thước, bề dài 12 thước, dạy được vài chục đứa thôi, nhưng bây giờ số học sinh lên 130 đứa rồi. Ngôi trường này ở Biển Hồ bây giờ đang được Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân, tổ chức bất vụ lợi ở Mỹ thường xuyên giúp đỡ. Từ  Campuchia trở về Mỹ sau chuyến thăm và cứu trợ đồng bào Việt nghèo khó ở Biển Hồ, ông Nguyễn Công Bằng thổ lộ việc giúp đỡ đồng bào nghèo ở Campuchia thường cũng không mấy dễ dàng: Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân bắt đầu làm việc ở Campuchia từ năm 2013, đầu tiên là một chương trình dạy học cho 45 em ở Seam Reap, sau đó qua Kampong Chnang và Prey Veng và gần đây nhất là mở rộng chương trình đến tỉnh Pursat. Hiện tại chúng tôi đang bảo trợ nói chung hơn 500 trẻ em gốc Việt Nam ở Campuchia có điều kiện đi học Việt ngữ và tiếng Khmer.   Một lớp học nổi (trên thuyền). Hình do Vì Dân Foundation cung cấp.   Chương trình giáo dục đầu tiên ở tỉnh Seam Reap hồi năm 2013 là trường Tín Nhân Quốc Tế chuyên dạy Việt Ngữ, Khmer ngữ và Anh ngữ vỡ lòng cho trẻ Việt đủ mọi lừa tuổi ở Seam Reap. Trường được hình thành bằng sự giúp đỡ của một viên chức chính phủ, một số luật sư ở vùng Battambang cùng với sự yểm trợ tinh thần lẫn vật chất của ông Nguyễn Công Bằng và Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân ở Hoa Kỳ: Sau này, vì những lý do khá tế nhị, Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân chuyển sang 3 tỉnh khác dọc Biển Hồ là Kampong Chnang, Prey Veng và Pursat với các xóm chài người Việt nổi trôi trên Biển Hồ: Người Việt ở Campuchia là một tập thể đồng bào bất hạnh nhất. Dù rằng họ sống rất gần đất nước Việt Nam nhưng họ không được xem là người Việt Nam, cũng  không được xem là người Campuchia, họ cũng không được điều kiện đi ra nước ngoài. Theo sự hiểu biết của chúng tôi trong thời gian sinh hoạt bên đó thì các hiệp hội quốc tế gọi đồng bào mình ở đó là những thành phần stateless những người không quốc gia. Tại vì từ thế hệ thứ hai  trở đi họ sinh ra mà không có khai sinh, không có căn cước, không có quốc tịch Campuchia. Và tất nhiên sinh ra ở Campuchia thì họ hoàn toàn không có giấy tờ Việt Nam. Lớn lên họ không được đi học và bây giờ thì con cháu của họ cũng vậy. Được đi làm trong các hãng xưởng là ước mơ cao nhất của những đứa trẻ Việt lớn lên trong các xóm chài trôi nổi trên Biển Hồ này. Chính vì thế, ngoài cái ăn thì việc mang lại chữ nghĩa và kiến thức cho con em Việt ở Campuchia là điều vô cùng quan trọng: Ngoại trừ một số gia đình may mắn, những đứa trẻ bên đó không có điều kiện để lên trung học, cũng không có điều kiện đi làm các hãng xưởng lớn. Không có điều kiện tiến thân, không có giấy tờ di trú hợp pháp nên nói chung họ không được hưởng phúc lợi công cộng như người bản xứ hay ngay cả người ngoại quốc mà có giấy tờ hợp lệ bên đó. Vì không được đi học nên họ bị những người thiểu số khác ở Campuchia coi thường chứ đừng nói chi đến người Campuchia. Người Việt Nam mình ở đó quơ cào làm bất cứ điều gì có thể làm được để kiếm sống qua ngày. Những đứa trẻ sống trong các nhà nổi như chiếc bè trên Biển Hồ đa số cũng theo cha mẹ đi đánh cá, rất nhiều đưa trẻ mới năm bảy tuổi, chín mười tuổi cũng theo cha mẹ đi giăng lưới, đi giăng câu, đi bắt cá vì không có điều kiện nào khác hơn. Ngoài Seam Reap, tại Kampong Chnang, Prey Veng và Pursat người ta cũng dễ dàng nhận ra những đứa trẻ Việt theo cha mẹ lên bờ đi làm thuê làm mướn: Đi lượm ve chai hầu hết là trẻ em Việt Nam chúng ta. Có đứa đi bán bong bóng, đứa lớn hơn đi làm phụ hồ, khiêng gạch khiêng đá, nói chung là quơ cào làm những nghề mà người bản xứ chê không làm. Nếu không có gì thay đổi thì thế hệ kế tiếp, con của những đứa trẻ mà chúng ta gặp ngày hôm nay, cũng sẽ nối tiếp đi làm mướn làm công, cũng đi ăn xin đi lượm ve chai. Đó là lý do tại sao chúng tôi cố gắng mở những lớp học cho các em. Dù rằng một ít chữ Việt  hay một ít  chữ Khmer cũng chưa hẳn có thể kiếm việc nhưng ít nhất có thể cho em niềm tin và hy vọng có thể đi học nghề, thoát mặc cảm dốt chữ đi làm công làm mướn. Hội đoàn giúp đỡ   Học sinh Việt tại tỉnh Pursat trên Biển Hồ. Hình do Vì Dân Foundation cung cấp.   Tại Kampong Chnang có khoảng 280 gia đình người Việt thì hơn 100 trẻ Việt Nam được sự trợ giúp về mặt giáo dục của Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân: Kampong Chnang có một trường do cộng đồng người Việt ở Úc xây dựng và tặng lại cho địa phương ở đó. Khi chúng tôi đến đó thì chúng tôi được hội MIRO mà chúng tôi cộng tác cho mượn trường đó để dạy các em từ Lớp Một tới Lớp Ba. Nhưng bắt đầu từ năm ngoái khi chính quyền Campuchia di dời nguyên cái làng nổi của người Việt Nam lên năm sáu cây số ở phía trên một vùng hẻo lánh thì một số em không còn đi học nữa vì quá xa, đi bằng xuồng bằng ghe thì không có ai đưa đón nên một số nhỏ đến trường được mà thôi còn một số lớn thì chờ ở địa điểm mới chúng tôi có thể mở một ngôi trường mới. Ở Prey Veng chúng tôi có điều kiện lo cho gần 300 em ở 4 địa điểm khác nhau tại vùng mà Việt Nam mình gọi là Hố Lương thuộc tỉnh Prey Veng đó. Riêng tại vùng Pursat ở phía Tây Biển Hồ thì gần 200 em được đi học ở hai địa điểm khác nhau: Đây là vùng xa xôi hẻo lánh, đi từ Kampong Leung là một bến đò mà đến làng đầu tiên phải mất gần 2 tiếng đồng hồ chạy xuyên qua mặt Biển Hồ. Đó là vùng gần như cách biệt với thế giới bên ngoài cho nên các em ở đó sống cô lập không tiếp xúc  với văn minh bên ngoài, nhiều em chưa bao giờ bước ra xã hội bên ngoài, cho nên điều kiện phát triển gần như không có. Sau này chúng tôi tập trung phát gạo bên đó, mở trường, sửa trường. Có những lớp mà các em ngồi dưới sàn của nhà nổi để học nên vừa rồi chúng tôi mua 45 bộ bàn ghế, sửa lại một trường nổi đã suy sụp và sắp chìm để các em có chỗ học. Ở đó tất cả mọi sinh hoạt đều trên nhà nổi \ hết. Tại Pursat  tùy theo hoàn cảnh có nơi chúng tôi bảo trợ hoàn toàn cả tiền thầy giáo, tiền ăn học, tiền sách vở, có nơi phải sắm bàn sắm ghế, có nơi phải sửa trường học. Tùy theo nhu cầu của từng địa phương mà chúng tôi có chương trình trợ giúp khác nhau nhưng đa số tập trung vào mặt giáo dục là chính. Cuối năm 2016 vừa qua, Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân, với sự trợ giúp của một số mạnh thường quân ở Hoa Kỳ, đã mua và phát một tấn rưỡi gạo cho bà con người Việt ở tỉnh Kampong Chnang. Bước sang tháng Giêng 2017, thêm 6 tấn gạo được phát ra cho bà con ở vùng nghèo nhất là Pursat phía Tây Biển Hồ. Ông Nguyễn Công Bằng: Cộng đồng gốc Việt ở Campuchia trên dưới bảy tám trăm ngàn, trong đó hơn một phần tư là người nghèo khổ nhất. Với khả năng của một hội thiện nguyện nhỏ bé như chúng tôi mỗi năm chỉ  năm bảy chục ngàn thì không giúp được bao nhiêu đâu. Chúng tôi qua đó chỉ gặp một hai hội của người Việt Nam, trong đó có một hội Công giáo, một hai nhóm Tin Lành và những hội khác nếu có sang cũng chỉ phát gạo mà thôi. Khi sang Campuchia nhìn thấy các em thiếu thốn đủ thứ mà cái thiếu lớn nhất là thiếu chữ. Tiếc rằng đến giờ phút này khả năng của hội chỉ chăm lo được trên dưới 500 em là con số rất nhỏ so với sỉ số các em đang cần được học chữ. Nhưng mà chúng tôi vẫn cố làm. MIRO, chữ viết tắt của một tổ chức ở Châu Âu chuyên giúp đỡ những di dân không có giấy tờ hợp lệ tại một đất nước mà họ chạy đến. MIRO đã giúp được cho người Việt như thế nào? Nhà báo Danh Hồng, một người Việt gốc Khmer Krom ở Phnom Penh: MIRO có hẳn một quĩ để giúp đỡ những người không có quốc gia nhưng MIRO chỉ làm một số công việc là đi giáo dục những người không quốc gia về cái lợi ích khi nhập quốc tịch nhưng họ không có hành động gì, họ chỉ tuyên truyền thôi. Thí dụ tôi là người Việt muốn vào quốc tịch Campuchia nhưng thủ tục từ A đến Z và ai làm thì MIRO không có, MIRO chỉ lại tuyên truyền thôi. Công việc của MIRO chỉ vậy thôi. Nói chung làm cho người Việt hội nhập có quốc tịch có giấy tờ hợp pháp thì cần có sự hỗ trợ pháp lý mới được. Và cũng rất thực tế là chỉ chính phủ bản địa mới có quyền hỗ trợ pháp lý nhằm hợp thức hóa người Việt  bất hợp pháp trên đất nước của họ. Thiết tưởng đây cũng là một gánh nặng đối với Phnom Penh, trong lúc Hà Nội, đặc biệt đại sứ quán Việt Nam ở Phnom Penh, không có động thái nào đáng kể. Liên lạc góp ý với Thanh Trúc: nguyent@rfa.org
    • Việt Hà, phóng viên RFA
      2017-03-23
        Vận chuyển lúa gạo tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, đoạn ngang Cần Thơ hôm 10/12/2014.  AFP photo Đập thủy điện Lào đe dọa nông nghiệp ĐBSCL
              Lào đang xúc tiến việc xây dựng con đập thứ ba trên dòng chính sông Mekong là đập Pak Beng, tiếp theo hai con đập gây tranh cãi đang được xây dựng của Lào là Xayaburi và Don Sahong cũng trên dòng chính của sông Mekong. Giới chuyên gia quốc tế và trong nước cho rằng các con đập của Lào kết hợp với những con đập đã được xây trước đó từ thượng nguồn sông bên Trung Quốc đang và sẽ có tác động tiêu cực lớn lên nông nghiệp và đánh bắt cá ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, nước hạ nguồn sông. Chỉ hai tháng sau khi Lào chính thức thông báo lên Ủy Hội Sông Mekong (MRC) vào tháng 11 năm ngoái về dự kiến xây dựng đập thủy điện Pak Beng trên dòng chính sông, vào hồi giữa tháng 1 vừa qua, MRC cho biết đã chọn ngày 20 tháng 12 năm 2016 là ngày đầu tiên cho quá trình tham vấn chính thức toàn vùng về đập Pak Beng. Đây là bước đi khiến các chuyên gia quốc tế quan ngại vì cho rằng việc xúc tiến xây dựng đập quá nhanh trong khi các bên liên quan vẫn chưa nhận đủ thông tin về dự án cũng như những đánh giá ảnh hưởng về môi trường của dự án lên dòng sông. Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của thủy điện dòng chính sông Mekong đưa ra vào hồi năm 2010 của MRC kết luận nếu tất cả các con đập dự kiến được xây dựng trên trong chính sông Mekong được thực hiện thì các dự án này đóng góp khoảng 8% năng lượng cho toàn vùng nhưng làm tổn thất các ngành thủy sản và nông nghiệp 500 triệu đô la một năm, hơn 100 loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng. Ảnh hưởng lên nông nghiệp và thủy sản Theo MRC, các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia đã quy hoạch trên 20 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. Trung Quốc đã triển khai xây 8 đập ở thượng nguồn. Các nước Lào, Campuchia có kế hoạch xây 11 đập ở hạ nguồn. Bà Maureen Harris, Giám đốc chương trình khu vực Đông Nam Á của tổ chức International Rivers, nhận định: Các con đập này sẽ làm giảm lượng phù sa của sông và điều này sẽ ảnh hưởng đến sự màu mỡ của đất, ảnh hưởng đến nông nghiệp dọc dòng sông và sẽ có ảnh hưởng rất lớn lên nông nghiệp của Việt Nam ở vùng đồng bằng sông Me Kong. International Rivers là một tổ chức phi chính phủ chuyên lên tiếng về môi trường các dòng sông ở nhiều nước trên thế giới. Theo tiến sĩ Dương Văn Ni thuộc trường đại học Cần Thơ, người đã có nhiều năm nghiên cứu về tác động môi trường của các đập thủy điện và biến đổi khí hậu lên vùng đồng bằng sông Cửu Long, các đập thủy điện của Trung Quốc, Lào, và Campuchia làm giảm lượng phù sa thô và phù sa mịn bù đắp cho vùng đồng bằng sông Cửu Long.   Ngư dân gỡ cá đánh bắt được trên sông Mekong, khu vực Lào hôm 29/5/2013. AFP photo   Nếu đúng kế hoạch Lào tiếp tục 11 đập ở Lào và cả ở Campuchia thì có thể nói chắc chắn là lượng cát thô nằm trong phù sa sẽ không còn về đồng bằng sông Cửu Long nữa. Kéo dài thêm là các loại cát mịn cũng bị ảnh hưởng. Bây giờ đã bị ảnh hưởng lượng cát thô rồi nhưng nếu 11 đập đó xây nữa thì kể cả cát mịn cũng bị ảnh hưởng… Hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long các công trình làm đường làm lộ, làm nền nhà thì cát mịn là vật liệu người ta san lấp mặt bằng, tôn tạo nền lộ. Nếu các đập thủy điện ở Lào và Campuchia xây dựng nữa thì lượng cát mịn còn giảm sâu hơn nữa. Theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni lượng cát thô hay còn gọi là phù sa thô ở đồng bằng sông Cửu Long vốn có tác dụng làm ổn định nền đáy sông, hạn chế xói lở trên đất liền, đã giảm đáng kể trong khoảng 8 năm trở lại đây. Ông ước tính khoảng 50% lượng cát thô đã mất đi từ phía các đập thủy điện ở thượng nguồn bên Trung Quốc sang đến đất Lào. Đánh giá về tác động của phù sa mịn mất đi đối với nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tiến sĩ Dương Văn Ni cho biết: Có hai ảnh hưởng, thứ nhất là các đập làm giảm dòng chảy, các phù sa này bị lắng và không đi về được phía dưới đồng bằng sông Cửu Long. Thứ hai quá trình này cũng khá nguy hiểm là phần lớn đất đồng bằng sông Cửu Long là đất phèn, nếu thiếu một lượng phù sa bồi đắp, khi đất bị trơ ra hay khai thác, tức bị oxy hóa thì phèn nó xì ra, làm cho các phù sa này lắng đọng, làm mất khả năng phù sa tràn lên trên đồng bồi bổ đồng ruộng. Cộng thêm chuyện nữa là khi nước về ít đi thì các công trình tại chỗ, đê bao chẳng hạn càng làm cho phù sa lên đồng càng khó khăn hơn, cho nên lượng phù sa dinh dưỡng lên đồng giảm sút rất nghiêm trọng. Hiện tại Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong. International Rivers đánh giá khoảng 75% đập Xayaburi đã hoàn tất. Mặc dù hai đập chưa hoàn tất, nhưng vùng đồng bằng sông Cửu Long đã chịu những tác hại về mặt thủy sản theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni: Về các đập trên Lào đang khởi động xây dựng, hiện tại tác động đầu tiên là làm xáo trộn dòng sông, nó làm tăng độ đục của dòng nước, một số loài cá di cư, đặc biệt cá di cư từ biển Hồ lên hạ Lào giảm đáng kể. Quá trình xây dựng tạo độ đục trên dòng sông nên những vùng hố sâu chẳng hạn là chỗ đẻ cho nhiều loài cá vào mùa khô bị mất đi những chỗ đẻ đó thì trong năm 2015 và 2016, các chỗ chúng tôi quan sát thì các loài cá di cư giảm đáng kể khi về đồng bằng sông Cửu Long. MRC đã quá vội vã Bất chấp những lo ngại này, Lào vẫn đang xúc tiến chuẩn bị việc xây dựng đập Pak Beng ở miền Bắc Lào với dự đính bán đến 90% điện sản xuất từ đập thủy điện sang Thái Lan. Ngày 16 tháng 1, tổ chức International Rivers, ra thông cáo bày tỏ thất vọng trước tuyên bố mới của MRC về quá trình tham vấn đối với đập Pak Beng vì cho rằng MRC đã quá vội vã với con đập mới trong khi những vấn đề được nêu ra với hai con đập trước của Lào là Xayaburi và Don Sahong vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ. MRC là tổ chức bao gồm sự tham gia của các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Các nước này đã ký thỏa thuận sông Mekong vào năm 1995 theo đó các nước có liên quan được quyền đưa ý kiến về các dự án trong quá trình tiền tham vấn làm cơ sở cho việc ra quyết định sau cùng. Theo International Rivers, Lào đã không thực hiện tốt cam kết của mình khi tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong khi chưa có sự đồng thuận từ các nước. Bà Maureen Harris tỏ ra bi quan trước những cam kết mà Lào sẽ thực hiện với đập Pak Beng dựa trên những gì mà Lào đã và đang làm với các đập hiện tại. Về cam kết của Lào trong quá trình tiền tư vấn đối với đập mới Pak Beng, chúng tôi dựa vào những gì đã thấy qua hai con đập trước mà Lào đã làm và cho đến giờ thì chúng tôi không thấy có dấu hiệu rõ ràng nào là Lào đã có những thay đổi đáng kể hay cải thiện có ý nghĩa nào trong quá trình lần này. Đối với hai con đập trước là Xayaburi và Don Sahong, các nước trong khu vực đã nêu ra những quan ngại sâu sắc về cả hai dự án và đưa ra những đề nghị cụ thể như thêm các thông tin cơ sở về đánh giá những ảnh hưởng xuyên biên giới và họ cũng yêu cầu kéo dài thời gian quá trình tiền tư vấn để có thêm thông tin về ảnh hưởng lên các nước. Nhưng những lo ngại này chưa bao giờ được đề cập trong quá trình tiền tư vấn. Trả lời báo Người Đô Thị hôm 22 tháng 2 vừa qua, ông Phạm Tuấn Phan, Giám đốc điều hành Ban Thư ký của MRC cho rằng Lào đã lắng nghe những ý kiến quan ngại và đã có thay đổi trong thiết kế với hai con đập Xayaburi và Don Sahong, tạo điều kiện cho sự di chuyển của cá, cải thiện phù sa. Ông Phan cũng cho rằng đập Xayaburi có thể được coi như một đập kiểu mẫu cho tất cả các đập trên dòng chính sông Mekong. Bà Maureen Harris bày tỏ sự nghi ngờ về nhận định này. Nói rằng đập Xayaburi có thể là kiểu mẫu thì rất đáng ngại đối với chúng tôi vì chúng tôi thấy những gì đã diễn ra trong quá trình xem xét đập là những quan ngại lớn từ các nước và tổ chức có liên quan nhưng những quan ngại này đã không được nhìn nhận một cách minh bạch. Cuối cùng thì chính phủ Lào và nhà đầu tư có thông báo là sẽ có thêm đầu tư để làm giảm ảnh hưởng của đập nhưng từ lâu rồi chúng tôi thấy là vẫn không có sự rõ ràng về thiết kế bổ sung và họ cũng không cung cấp các văn bản về những thay đổi thiết kế này. Toàn bộ thiết kế của đập bao gồm những thay đổi vẫn chưa được công bố rộng rãi cho công chúng và không được đánh giá độc lập để biết được là những thay đổi này có hiệu quả thế nào trong việc làm giảm tác động của đập lên dòng sông. Từ năm 2010 các chuyên gia quốc tế đã kêu gọi các nước nên ngưng việc xây dựng toàn bộ các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong trong 10 năm cho đến khi có thêm những nghiên cứu tổng thể về ảnh hưởng của các đập thủy điện lên dòng sông. Tuy nhiên kiến nghị này đã không được thực hiện khi Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập và đang chuẩn bị cho đập thủy điện tiếp theo. International Rivers quan ngại quá trình phê duyệt từng đập thủy điện của MRC hiện tại quá nhanh và chưa đủ tính minh bạch. Chuyên gia Maureen Harris cho rằng ảnh hưởng của từng đập là nhỏ nhưng với đà phê duyệt như hiện nay, khi một loạt các đập được xây dựng, hậu quả về lâu dài lên dòng sông sẽ lớn hơn rất nhiều.
    • Nguyên Thạch     "Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho hòa bình là ngàn năm đen tối cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau." Ronald W Reagan   *   "Mỗi năm đến hè lòng man mát buồn...", những ngày tháng Ba loạn ly rồi đến tháng Tư ly biệt, bẻ súng chiến bào bức tử để rồi kết quả là một đất nước hôm nay bị dồn vào ngõ tận, mọi con đường đi đến XHCN đều bế tắc mà đường cùng của nó là nô lệ ngoại bang Tàu cộng.   Tháng Tư Đen lần thứ 42 lại đến, tháng của tang thương và uất hận, tháng của khổ đau, của nước mắt dạt dào. Tháng của chia lìa, ly tán, hư hao, bẻ súng gãy gánh trong niềm đau bức tử.    Hôm nay, những ngày của cuối tháng Ba, nhân đọc bài 5 bài hát bị cái gọi là nhà nước CHXHCNVN cấm, tôi chợt nhớ và thương về những người lính năm xưa, những người đã nằm xuống một cách anh dũng để bảo vệ miền Nam, bảo vệ những lời ca tiếng hát đầy tình tự nhân văn. Tháng Tư, người dân cả nước lại nhớ thương luyến tiếc về các anh, về một nền Tự Do đầy nhân bản đã bị loài thú hoang hung tàn xé nát đến thảm thương.   Những gương hùng bất tử Ngụy Văn Thà, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long, Phạm Xuân Thanh, Trần Văn Hai, Nguyễn Hữu Thông, Lê Cầu, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Gia Tập, Tạ Hữu Di, Nguyễn Văn Cảnh, Huỳnh Văn Thái... (2) và nhiều hơn nữa, nhiều lắm.    Các anh là những đứa con yêu của Tổ Quốc, của Tự Do và Nhân Bản.    Cho dẫu hôm nay các anh còn sống trong sự tàn tạ như một phế nhân hay đã chết trong niềm đau tức tưởi căm hờn thì các anh vẫn luôn là những chàng trai kiêu hùng của nước Việt.    Những đứa em thuộc thế hệ đi sau, nguyện noi bước đàn anh để tiếp tục trên con đường chiến đấu cho một Việt Nam Độc lập Dân Chủ Tự Do Nhân Bản và Hưng Thịnh hầu an ủi cho vong hồn các anh nơi chín suối cũng như ân cần chia sẻ cho những người lính bất hạnh còn lại trong hoang phế nhọc nhằn.    Sau đây là những vần thơ chân thành của một đứa em, mong tặng các anh thay những lời ru cho những chiến sĩ vị quốc vong thân nhân mùa tháng Tư đau thương oan nghiệt.    Nguyện cầu hương hồn hiển linh của các anh phò hộ cho những lớp đàn em, chân cứng đá mềm trên con đường đấu tranh cứu quốc khỏi tai ách cộng sản hung tàn toàn trị và lệ thuộc ngoại bang Tàu cộng.    Tác giả xin mạn phép mượn lời nhận xét như nhà tiên tri của cố Tổng thống Ronald W Reagan cùng những bài thơ kèm theo để nói lên thảm trạng của đất nước hôm nay đã lọt vào tay bầy quỉ dữ.       "Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho hòa bình là ngàn năm đen tối cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau."(1)   *   Tiễn anh người lính năm xưa    Anh nằm đó trong căn gác nhỏ  Chết cô đơn, nơi xó góc nhà  Hồn ra đi hơn một tuần qua  Xác cô lạnh, người ta nào biết!    Anh nằm đó, người trai gốc Việt  Lìa thế gian, tha thiết gì không?  Chẳng có ai chia sẻ nỗi lòng  Trong phút cuối thong dong miên viễn.    Phút anh đi, ai người đưa tiễn?  Ai vẫy tay biền biệt ngàn thu?  Nhớ ngày xưa chiến trận diệt thù  Cờ phủ ấm, lời ru đồng đội.    Ghé thăm anh, nén nhang tạ lỗi  Quá khứ ơi, dậy nỗi ngậm ngùi  Chiến trường xưa cho dẫu ngược xuôi  Trận xung kích buồn vui bầu bạn    Chốn lưu vong... buồn theo năm tháng  Nỗi nhớ nhung, khuất dạng Quê Hương  Đời nơi đây, xa vắng người thương  Bởi bận bịu... con đường sự nghiệp.    Chiến chinh tàn, nhưng anh vẫn tiếp  Cuộc đấu tranh, chấp nhận nghiệp nghèo  Mong vần thơ nhiệt huyết anh gieo  Cho thế hệ tiếp theo lĩnh hội...    Giờ tiễn anh, tôi nguyền tiếp nối  Sẽ thay anh tạ tội nước non  Anh yên tâm, mai quê mẹ khải hoàn  Ta không thẹn là con đất Việt.    Bài thơ gởi anh thay nén hương thương tiếc.    *   Quê Hương và kỷ niệm    Tôi với anh chung thôn xóm nhỏ  Nơi Quê hương có tên gọi Việt Nam  Anh lớn trước, chống quân thù giặc đỏ  Tôi sinh sau, còn đủng ghế trường làng.    Đêm đêm về bom vẳng âm vang  Miền xa thẳm, anh dặm ngàn chiến tuyến  Hòa tiếng bom... tôi gởi lời cầu nguyện  Chiến trường xa mong trận chiến an lành    Núi thẳm rừng sâu thương quá lớp đàn anh  Hỏa châu chiếu, mắt long lanh lính trận.    Miền Nam của chúng ta, đầy yêu thương, không thù hận  Giặc Bắc tràn về, giặc xâm lấn quê hương  Giặc đến đây, nhuộm máu khắp nẻo đường  Gieo rắc thù hận đau thương tang tóc!    Trai thời loạn... giã biệt áo thư sinh, rời trường học  Những em thơ chiều khóc nhớ anh mình  Sáu tuổi đầu đời, đã sớm nhận hung tin  Người anh ấy đã hy sinh trong chiến trận    Sáu tuổi đời, đã khắc ghi niềm căm hận  Tuổi thơ ơi, sao sớm đón nhận đau thương! Thế là từ đây đường làng bước đến trường  Vốn trống vắng, lại càng thêm hoang vắng    Chiều tan học, nhìn ra mộ anh, tôi lẳng lặng  Nước mắt rơi trong tiềm thức ngậm ngùi  Chiến tranh bạo tàn đã cướp lấy anh tôi  Còn đâu nữa những ngày vui chim sáo nhỏ.    Tháng Tư đến đất trời lộng gió  Mùa tang thương cây cỏ cũng tàn theo...    Mẹ anh, mẹ tôi, tất cả đều nghèo  Thương bác quá, ngày dài trông theo bóng nhạn  Sức già mỏi mòn úa theo ngày tháng  Lá vàng đi tìm dạng bóng lá xanh.    Tháng Tư ơi, tôi đã thấu ngọn ngành  Người ở lại tuổi xanh nhưng đầu trắng bạc    Ôi quê hương! Đau dân tôi... một đàn cừu ngơ ngác...    *   Chiếc áo vàng   Chiếc áo vàng hôm xưa em mặc  Ba đóa hồng hương thắm huyền nhung  Màu áo quê hương, màu nhân bản kiêu hùng  Ngời chí khí dũng trung đoàn vệ quốc.    Mùa bảy lăm hóa đời tất bật  Bão giao mùa, em khoát áo màu đen  Thờ thẫn trong đêm thành phố không đèn  Cây cột điện cũng chưa quen mùi cách mạng!    Dòng cam go... dần trôi theo năm tháng  Khúc tương phùng hút dạng nẻo người đi  Em liễu tơ ngất lịm buổi phân kỳ  Nợ chưa dứt, lần đi, lần vĩnh biệt.    Cứ mỗi dạo tháng Tư về là lòng em thương tiếc  Con gái của chúng mình, giờ cũng biết được chuyện xa xưa  Nó lớn lên, tuy không bom đạn cày xéo đường phố hàng dừa  Nhưng tội nó kiếp đong đưa vòng khổ lụy.    Tuổi thơ ngây nhưng bản án vô hình đã trùm nó vào vòng lao lý  Là đứa con của tên "ngụy" ác ôn  Nó lớn lên trong tủi hận tâm hồn  Đường tiến bước, vùi chôn theo lý lịch.    Nơi trại tù cha nó vẫn bị xem là địch  Đảng trả thù... trong chiến dịch phục thù xưa  Chiều Việt bắc lã chã thấm giọt mưa  Đủ thắm lạnh cho thân gầy vừa gục xuống.    Nó và em hai mảnh đời nơi nương ruộng  Cơn đói về cuồng cuộn rét buốt thân  Nước độc rừng ma, tuổi mười sáu yếu dần  Nó lên phố bán thân làm đĩ!    Trong thầm kín, nó không bao giờ quên mình là con thằng ngụy!  Đời giang hồ, nó bị Si-đa  Những lúc hận đời là những khi nó thương nhớ về Cha  Càng cương quyết hiến thây ma này cho cán bộ.    Tuổi mười bẩy, hoa phượng đường nở rộ  Quan chức giàu, không ngố cũng phải ham  Nó khắc tên những thằng tham quan sau những chuyến "đi làm"  Vào cây xương rồng đỏ... hồng cam vết máu.    Hôm tiễn con đi, trong quan tài buồn, em mặc cho nó chiếc vàng màu áo  Của người vệ quốc quân dũng cảm hôm nào  Mong về gặp anh vầng sáng một vì sao  Và từ đó... những lần mộng chiêm bao em cười nụ.    Nghiêng ngả Quê Hương... mưa sa cờ rũ.  Em mơ về... ngày cũ thuở thương yêu  Tháng Tám mùa thu đời ngã muôn chiều...  Em nuối tiếc thương yêu mùa nhân bản    Quê hương tuyệt vọng... kể từ ngày có đảng.    *   Miền đất bạc    Trung tá Lê Văn Ngôn   Mùa thu cũ nhớ ngày xa lặng lẽ  Tôi viết bài thơ lời tưởng niệm tặng anh  Ngày ra đi không tiếng trống, không nhạc quân hành  Thảm cỏ úa, vài chiếc lá xanh làm phúng điếu.    Anh ra đi... không mang theo giấc mơ huyền diệu  Vỏn vẹn chỉ chiếc áo tù và manh chiếu phủ thân  Hai chiến hữu đồng tù, còng lưng thương tiếc ân cần  Cũng kiệt sức trơ dần theo đói khát.    Mé rừng hoang, nơi anh nằm, miền đất bạc  Sỏi đá khô cằn, tan tác thê lương  Bạn tù khiêng anh, quỵ ngã bên đường.  Anh không nặng nhưng hai thân gầy xương khiêng sao nổi!   Sức kiệt đất cằn bốn tay gầy xới vội  Huyệt không sâu giá lạnh một lối về  Ngày anh đi, không con cháu, không hôn thê  Âm thầm cô lẻ nẻo đường quê từ biệt.    Nước mắt hai bạn tù đã đuối mòn cạn kiệt  Gió vi vu thương tiếc thoảng mênh mang  Anh ra đi hồn lẻ nhập suối ngàn  Đâu còn nữa... thênh thang đường Tổ Quốc.    Chiều Việt Bắc, dòng đời trôi tất bật  Khối nhân gian vẫn vờ vật với đời Giã biệt anh người chiến hữu ơi  Theo sau linh cữu chỉ đất trời gió lộng...    Chuyến viễn du ngàn thu nhưng trong tôi anh vẫn sống.    23/3/2017   Nguyên Thạch (danxuanson blog)
    • Phương Thảo (VNTB) Trong Báo cáo về Hạnh phúc Thế giới năm 2017, mười quốc gia hạnh phúc nhất thế giới đều là các quốc gia phương tây, dẫn đầu là Na uy, tiếp theo lần lượt là Đan mạch, Iceland, Thuỵ sỹ, Phần lan, Hoà lan, Canada, New Zealand, và Thuỵ Điển. Việt nam đứng hạng thứ 94 trong tổng số 126 nước tham gia trong cuộc khảo sát.   Theo báo cáo, hạnh phúc được xác định trên cơ sở các yếu tố như: sự phân phối công bằng của cải, sự liên kết xã hội, niềm tin vào xã hội và chính phủ, chất lượng chăm sóc và sự tự do. Trong cuộc khảo sát, người ta sẽ cho điểm từ 1 đến 10 về sự hỗ trợ xã hội họ nhận được khi có bất trắc xảy ra, sự tự do trong chọn lựa cuộc sống, cảm giác về tham nhũng trong xã hội cũng như họ hào phóng đến mức nào.   Các yếu tố này được đưa ra cụ thể hơn so với các câu hỏi mà Indochina Research đã làm trước đây và đưa ra kết quả Việt nam là quốc gia hạnh phúc thứ 5 trên thế giới nhằm ru ngủ và mị dân trong bối cảnh nền kinh tế không còn phát triển, nợ nần chồng chất và chất lượng môi trường cuộc sống đang tuột dốc.   Phân hoá xã hội   Việt nam giờ đây có 2 tỷ phú đô la được đưa vào bảng xếp hạng của Forbes, là ông Phạm Nhật Vượng và bà Nguyễn Thị Phương Thảo. Số người giàu và siêu giàu tăng lên đến chóng mặt nhờ vào kinh doanh bất động sản, cổ phiếu, tài nguyên thiên nhiên chứ không gắn liền với phát triển bền vững. Ở Việt nam vẫn còn có tới 15% hộ nghèo và cận nghèo và khoảng cách giàu nghèo vẫn vô cùng lớn.   Sự liên kết xã hội được đánh giá vào sự giúp đỡ của những người trong cộng đồng với nhau. Có thể nói người Việt nam sẽ tự hào vì truyền thống lá lành đùm lá rách và cho rằng đó là sự hào phóng lớn một khi có thiên tai, lũ lụt, hay có gia cảnh thương tâm thì số tiền từ thiện quyên góp được sẽ tăng lên đến chóng mặt. Ông Phạm Nhật Vượng và bà Nguyễn Thị Phương Thảo là những tỷ phú USD của Việt Nam. Chỉ số này có thể cao khi có sự huy động, nhưng nghịch lý ở chỗ trách nhiệm của nhà nước đã bị đá sang sân của dân chúng. Trong khi trách nhiệm của nhà nước là làm thế nào để bảo vệ người dân tránh thiên tai lũ lụt chứ không phải để người dân tồn tại được nhờ vào lòng từ thiện của cộng đồng.   Khi người dân bị mất đi sinh kế trong thời gian dài hạn, chẳng hạn do ô nhiễm môi trường ở miền Trung, người già không còn sức lao động, lao động tự do và không thuộc biên chế nhà nước, thì họ phải tự bươn chải và bị gạt ra bên lề xã hội.   Những người già, trẻ em hay người tàn tật đi bán vé số, bán hàng rong để kiếm dăm bảy chục ngàn đắp đổi qua ngày là những hình ảnh nhức nhối, cho thấy chính quyền Việt nam hoàn toàn bất lực trong việc chăm sóc người dân. Viễn cảnh được trợ cấp khi thất nghiệp hay không còn khả năng lao động, được hưởng đến 5 tuần phép trong năm như các quốc gia hạnh phúc hàng đầu này với người Việt chắc chắn vẫn còn xa vời vợi.   Người già chật vật kiếm sống trong một phóng sự của Channel News Asia mới đây thể hiện rõ cái gọi là hỗ trợ xã hội được đo ở mức gần như không tồn tại cho những người đã bị xã hội quên lãng này khi họ đã 70-80 tuổi – độ tuổi lẽ ra được nghỉ hưu và an hưởng tuổi già từ lâu. Có thể đổ lỗi cho việc họ không có thói quen đóng quỹ hưu trí để được bảo trợ khi về già theo như khuyến khích của nhà nước, nhưng điều này lại là hệ luỵ của việc không có niềm tin vào thể chế hiện hành.   Niềm tin xa xỉ   Niềm tin vào xã hội và chính phủ của dân chúng có lẽ chưa bao giờ giảm sút như thế này. Bằng chứng là việc gì họ cũng phải gọi thủ tướng từ xây resort, đến tội phạm ấu dâm, điều chỉnh giá xăng dầu hay cả bị cát tặc đe doạ. Đến nỗi ông Tiến sỹ Nguyễn Sĩ Dũng phải tâm tư “Mọi thứ có vẻ đều đang đổ dồn lên cho Thủ tướng. Và xử lý cho hết, không biết Thủ tướng còn thời gian để ăn và ngủ nữa không?”   Dân không còn tin vào quan chức địa phương cũng như hệ thống hành pháp của nhà nước vì mọi việc hoặc sẽ bị chìm xuồng vì xâm phạm lợi ích nhóm hoặc đụng chạm đến (cựu) quan chức chính phủ. Hoặc dân chúng đã sợ hãi đến độ họ không dám kêu than, phản kháng những bất công trong xã hội khi nhìn thấy những khuôn mặt đầy máu của những người dân đi khiếu kiện Formosa hay bày tỏ lòng yêu nước đã bị các nhân viên công quyền, anh ninh đàn áp thẳng tay.     Người ta nghi ngờ lẫn nhau trong khi sự tin tưởng là một trong những điều cùng tụ hội về để tạo nên sự hạnh phúc mà tiền bạc không thể đem lại theo như quan điểm của người dân xứ Na uy. Niềm tin vào chính phủ làm sao có được khi Chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt nam theo tổ chức Minh bạch thế giới năm 2016 là 33/100 điểm và xếp hạng 113 trên 176 quốc gia. “Việt Nam chưa tạo ra sự thay đổi mang tính đột phá trong cảm nhận về tham nhũng trong khu vực công và tiếp tục nằm trong nhóm các nước mà tham nhũng được cho là nghiêm trọng.”   Cảm nhận tham nhũng tồn tại bắt đầu từ việc chạy trường cho con học từ lớp mầm non cho đến khi chạy bằng cấp, chạy việc, chạy chức; nạn mãi lộ cho cảnh sát giao thông, chạy án; phong bì lót tay cho các thủ tục hành chính từ cấp phường xã trở đi. Cảm nhận tham nhũng của dân đối với chính phủ đạt ở mức “vô cùng quan ngại” khi các công trình nghìn tỷ tỷ lệ thuận với độ phình về tài sản của quan chức.   Tham nhũng từ đất đai cũng đang là một ung nhọt lớn của xã hội khi đất vàng lẫn các công trình kiến trúc có tính lịch sử văn hoá lần lượt lọt vào tay đại gia như thương xá Tax, khu Thủ thiêm Sài gòn; sinh thái bị huỷ hoại để phát triển resort như ở bán đảo Sơn trà hay các nhà máy nhiệt điện, thép ... với công nghệ Trung quốc lỗi thời, lạc hậu như Formosa, Bauxit Tây nguyên.   Cũng với điều tra của Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố ngày 7 tháng 3 năm 2017, Việt nam “ được” xếp hạng hai ở Châu á với tỷ lệ tham nhũng 65% – chỉ sau Ấn độ. 60% người dân tham gia điều tra cảm thấy rằng chính quyền gần như không làm gì để chống lại nạn tham nhũng.   Với những thành tích như vậy thì niềm tin vào xã hội và chính phủ của người dân Việt nam là một thứ xa xỉ.   Tự do   Tự do vốn là những điều cơ bản của nhân quyền. Người Việt nam vẫn tự cho rằng họ đang rất “tự do trong khuôn khổ” khi muốn nói gì, làm gì cũng được miễn là không đụng chạm đến chính trị, không đụng chạm đến chính phủ và các “vấn đề nhạy cảm”. Sự giới hạn tự do cũng như ý thức cộng đồng hạn chế ảnh hưởng đến mức độ tận hưởng hạnh phúc của chính bản thân người dân cũng như cả xã hội.   93% người tham gia khảo sát ở 10 quốc gia hàng đầu cho biết họ có tự do để chọn lựa trong cuộc sống. Sự tự do góp phần làm tăng hiệu quả tích cực và giảm bớt hiệu quả tiêu cực. Trong khi ở các quốc gia có chỉ số hạnh phúc thấp, cảm giác tự do chỉ vào khoảng trên dưới 75%.   Năm 2016, Tổ chức Freedom House xếp Việt nam vào nhóm các quốc gia không có tự do về quyền chính trị, tự do dân sự. Tự do ngôn luận không thể hiện rõ ở nơi người dân có quyền bày tỏ chính kiến và tranh luận để bảo vệ luận điểm. Tự do báo chí vẫn là ước mơ khi tất cả phải đi theo định hướng của Đảng, để bảo vệ và phục vụ đảng cầm quyền và được xếp hạng 175/180 toàn thế giới theo chỉ số xếp hạng của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới. Tổ chức Freedom House nhiều lần xếp Việt nam vào nhóm các quốc gia không có tự do về quyền chính trị, tự do dân sự. Người dân có tự do để chọn không thực hiện những điều không phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật, nhưng họ đã không làm điều đó. Thay vào đó họ chọn tự do xả rác, tự do hái hoa; tự do sử dụng các sản phẩm nhái, giả đến việc vô tư vi phạm bản quyền sách báo, phim ảnh; tự do xài hàng lậu do giá rẻ; hay cho đến tự do huỷ hoại thiên nhiên; tự do tận diệt sinh vật biển và chim thú, tận diệt rừng phòng hộ; tự do khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên, rồi cả tiếp tay cho nạn tham nhũng.   Vì những tự do cá nhân trước mắt mà trong dài hạn họ đã tước đi quyền lợi của cả cộng đồng mà dù có tiền cũng không thể mua được như môi trường trong sạch sống, tuổi thọ kéo dài, sức khoẻ được bảo vệ và chăm sóc tốt, xã hội minh bạch và đối xử với những nhau bằng sự tôn trọng.    Sự tự do của người Việt nam đã không được thực thi dựa trên ý thức cộng đồng và và hiểu biết công ích – điều cốt lõi đã làm cho các quốc gia hàng đầu trên thế giới được mệnh danh là các quốc gia hạnh phúc nhất. (ijavn.org)
    • RFA
      2017-03-23
        Trẻ em Bắc Hàn suy dinh dưỡng. Ảnh chụp ngày 12/7/1997.  AFP photo       Liên Hiệp Quốc đưa ra báo cáo về tình trạng thiếu lương thực và suy dinh dưỡng tràn lan ở Bắc Triều Tiên. Trong lúc đó thì một quan chức cấp cao nước này kêu gọi các nhà tài trợ đừng để các hỗ trợ nhân đạo bị ảnh hưởng bởi chính trị. Đánh giá về nhu cầu "Cần và Ưu tiên" do Nhóm Nhân đạo Quốc gia, gồm các cơ quan của LHQ và các tổ chức phi chính phủ đưa ra cho rằng người dân Bắc Triều Tiên có những nhu cầu "thiết yếu, nhưng chưa được đáp ứng". Khoảng 41%, tức chừng 10,5 triệu người dân Bắc Hàn bị suy dinh dưỡng, đứng thứ 98 trong số 118 quốc gia. Đó là số liệu từ Chỉ số đói nghèo toàn cầu năm 2016 của Cơ quan Nghiên cứu Chính sách Lương thực quốc tế đưa ra. Ngoài ra thống kê cho thấy khoảng 18 triệu người Bắc Triều Tiên, trong đó có 1,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi, sống phụ thuộc vào chế độ phân bổ lương thực của Chính phủ gồm các phần ngũ cốc và khoai tây. Từ tháng 7 đến tháng 9 năm ngoái, khẩu phần phân phối giảm xuống còn 300 gram mỗi người mỗi ngày so với chuẩn mà Bình Nhưỡng đưa ra là 573 grams.  
    • Chu Bách Việt (Danlambao) Tin mấy ngày vừa qua Trường đại học Châu Á Ba trăm trường hàng đầu Mình chẳng được gì cả! [1]   Lãnh đạo ta vẫn xưng Với bằng cấp đem trưng Đều tốt nghiệp tiến sĩ Ma-dê-in trên rừng.   Đại học ta không tốt Học bao nhiêu cũng dốt Thì ra lãnh đạo ta Toàn một lũ khỉ đột.   Bởi thế, bác thấy không Mỹ làm phim King Kong Là phim con khỉ đột Làm trò khỉ trong rừng. [2]   Vai chính con bú dù [3] Vừa già lại vừa ngu Giao cho Nguyễn Phú Trọng Làm King Kong Trọng lú.   Vai con khỉ ác gian Giao cho Trần Đại Quang Bình thường đã giống khỉ Chẳng cần phải hoá trang.   Vai con khỉ mặt mo Mặt vừa tròn vừa to Giao cho Nguyễn Xuân Phúc Thế là chẳng phải lo.   Con khỉ cái mặt đần Giao Nguyễn Thị Kim Ngân Cầm đầu đám nghị gật Cả một bầy ngớ ngẩn.   Đảng cộng sản nước ta Từ nay tiếng vang xa "Đảng đầu lâu khỉ đột" Hại dân, bán nước nhà.   (Ngày 23 tháng 3, 2017)   Chu Bách Việt danlambaovn.blogspot.com   ___________________________________________   Chú thích:   [1] Danh sách 300 đại học hàng đầu châu Á không có trường Việt Nam http://www.voatiengviet.com/a/3773965.html   [2] King Kong có thể "giúp tăng tốc du lịch Việt" http://www.voatiengviet.com/a/3757594.html   [3] Bú dù: con khỉ https://vi.wiktionary.org/wiki/b%C3%BA_d%C3%B9#Ti.E1.BA.BFng_Vi.E1.BB.87t