Chatbox
    You don't have permission to chat.
    Load More

Forums

  1. Thông Báo

    1. 1
      post
  2. Tin Tức

    1. Tin Việt Nam   (303 visits to this link)

    2. Bình Luận Thời Sự   (1,013 visits to this link)

    3. Tin Khoa Học - Vi Tính   (130 visits to this link)

    4. Tin Kinh Tế   (156 visits to this link)

    5. Biển Đông   (235 visits to this link)

    6. Thể Thao   (131 visits to this link)

    7. Thế Giới Động Vật   (104 visits to this link)

  3. Âm Nhạc

    1. Thông Tin Âm Nhạc   (136 visits to this link)

    2. 7
      posts
    3. 7
      posts
    4. 5
      posts
  4. Vườn Thơ

      • No posts here yet
    1. 1
      post
      • No posts here yet
  5. Đời Sống Xã Hội & Tâm Linh

    1. 25
      posts
    2. 18
      posts
    3. 3
      posts
  6. Văn Hóa & Nghệ Thuật

    1. 13
      posts
    2. 7
      posts
    3. 11
      posts
    4. 7
      posts
  7. Giải Trí

    1. 2
      posts
  8. Lưu Trử - Storage

    1. 1
      post
  • Images

  • Latest Videos

  • Video Statistics

    • Videos
      156
    • Submitters
      1
    • Views
      27,162

  • Posts

    • Albany WA Aus
      2 nd trip to Albany.   IMG_0503.MOV
    • Mạnh Kim - Đôi nét về nhạc sĩ Tuấn Khanh
      Nhạc sĩ Tuấn Khanh Có nhiều nhà báo đã được trao giải trong dịp này và nhiều tờ báo cũng tôn vinh một số cây bút trong hệ thống báo chí nhà nước. Nhiều tờ báo, như thường lệ, lại viết về “sức mạnh báo chí” và “báo chí nhân dân”. Tuy nhiên, chẳng tờ báo nào dám đụng đến truyền thông xã hội, một đề tài “rất nhân dân”; cũng như tác động thật sự của truyền thông xã hội lên cộng đồng lẫn hệ thống báo chí thuộc quản lý nhà nước. Viết về chân dung những nhà báo tự do càng không dám. Dĩ nhiên báo chí nhà nước chỉ được khen phóng viên nhà nước. Một số cây bút tự do, trong thực tế, luôn xứng đáng được trân trọng, xét về ảnh hưởng và tác động xã hội. Tôi muốn nói đến một người: Tuấn Khanh.   Tuấn Khanh không hẳn là nhà báo. Một cách chính xác, anh là nghệ-sĩ-viết. Khanh viết đẹp. Văn của Khanh rất “người” và rất Việt Nam. Khanh không viết chữ. Khanh viết bằng cảm xúc, nhiều khi hơi đậm, nhưng không cây bút nào viết “ra nước mắt” và thẩm thấu ruột gan bằng anh. Một số bài của Khanh, tôi có cảm giác, anh thấu thị nó bằng cái nhìn khác thường. Anh đặt nó ở một góc mà chỉ anh mới thấy và miêu tả được. Cách sắp xếp cấu trúc trong tư duy của Khanh rất đặc biệt. Trong một bài, Khanh có thể xâu chuỗi và móc nối nhiều sự kiện lại thành một mạch liền lạc với kỹ năng dệt chữ mượt mà trôi chảy đến mức sửng sốt và đưa đến một kết luận có thể gây bàng hoàng.   Văn của Khanh thể hiện tính cách của Khanh. Anh nhạy cảm với diễn biến xã hội. Khanh dễ dàng trầm uất và “trốn” vào một góc để một mình tự dằn vặt. Tuy nhiên, anh không bao giờ chạy trốn cuộc đời. Anh cũng là con người của tự do. Khái niệm tự do rất lớn và bao trùm trong Khanh. Từ rất lâu, Khanh đã là một nhà báo của tự do ngay khi anh còn làm trong hệ thống báo chí nhà nước. Tôi còn nhớ, lúc ấy, khoảng giữa thập niên 1990, Khanh đã “gây sốc” với bài báo “Nghĩ về dòng âm nhạc hôm nay” đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật. Bài báo viết về sự cần thiết phải thay đổi tư duy sáng tác để phù hợp với thế hệ trẻ hiện đại. Ngay lập tức, Hội âm nhạc TP lẫn Hội âm nhạc trung ương vây vào “đánh” Khanh tơi tả. Họ nói Khanh khước từ và phủi bỏ cống hiến của dòng “nhạc cách mạng”. Họ nói anh “phản động”. Họ nói anh là “phần tử xấu”. Tuấn Khanh trở thành “sự kiện” ở thời điểm đó, với bài báo đó. Khanh, dĩ nhiên, bị đẩy khỏi Tuổi Trẻ. Khanh bắt đầu “đi bụi”. Anh đi vào xã hội. Anh đến tận cùng lớp đáy nơi người nghèo lam lũ và nhặt nhạnh từng xu qua ngày. Rồi Khanh sáng tác. Một lần nữa, như có thể “hiểu” được, một số ca khúc của anh cũng bị làm khó và thậm chí bị cấm.   Có lúc Khanh bỏ hết. Học đến năm thứ ba ngành quan hệ ngoại giao Đại học Luật, Khanh bỏ. Học đến năm thứ ba khoa Anh Đại học Tổng Hợp, Khanh cũng bỏ. Anh bỏ vì người ta không muốn anh học. Thậm chí với trường nhạc, Khanh cũng suýt bỏ vì bị trù dập bởi cái mác “thành phần phản động”, nếu không nhờ một số người thầy đứng ra bênh vực. Có một thứ Khanh không thể bỏ: viết. Anh không muốn là trí thức trùm chăn. Anh viết, về đời, về những gì anh thấy chứ không phải được áp đặt để thấy, về những gì rất gần với lương tri, bằng cảm xúc của một tâm hồn Việt Nam tinh tuyền.    Mạnh Kim   (FB Mạnh Kim) 
    • Cá chết ở miền Trung & Thơ từ những cây viết không chuyên
      Mặc Lâm, biên tập viên RFA
      2016-04-30 In trang này Chia sẻ Ý kiến của Bạn Email vhnt043016.mp3
        Người dân thu gom ốc biển chết ở Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh hôm 27/4/2016. AFP       Chỉ trong vòng một tuần lễ sau vụ cá chết trắng ở 4 tỉnh miền Trung, trên hệ thống mạng xã hội xuất hiện hàng chục bài thơ của những cây bút không chuyên viết những dòng tự sự về tình trạng hoi hóp này và liên tưởng đến những cái chết trắng khác đang dần dần trở thành hiện thực. “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” Từ Hà Tĩnh, nơi có Vũng Áng và Formosa khi mọi con mắt đổ dồn vào nó với những bức xúc không cần che dấu đã xuất hiện bài thơ của một cô giáo trường chuyên. Bài thơ ngay lập tức được tải rộng khắp trên mạng xã hội, bài thơ được share hàng ngàn lần và người chơi Facebook gần như đi đâu cũng gặp bài thơ này. Bài thơ hay mặc dù nó rất bình thường, nó nói ra những điều mà mọi người đều thấy. Nó nhắc tới nỗi ngây thơ đến dại dột của người dân khi bị chèn ép, ngược đãi thậm chí lừa dối nhưng vẫn bình chân như vại và cảm thấy đấy không phải là việc của mình. Sự ngây thơ ấy được tác giả bài thơ là cô giáo Trần Thị Lam nén lại trong hình ảnh của một em bé bốn ngàn tuổi rồi mà vẫn thích bú mớm không chịu đứng dậy trên đôi chân của mình. Em bé Việt Nam khập khểnh và bệnh tật trên khắp cơ thể. Hình ảnh cá chết đầy mặt biển là một tiếng chuông gọi hồn cuối cùng cho những chiếc thuyền nhớ biển khơi và người ngư dân nhớ sóng. Cô giáo Lam không khóc mà nước mắt lưng tròng. Cô viết những dòng chữ mang nỗi ngậm ngùi cay đắng của tất cả chúng ta, những người nói tiếng Việt trên khắp thế giới. Người trong nước bất lực, người bên ngoài lại càng bất lực hơn. Bài thơ của cô diễn tả sự bất lực ấy bằng một câu cũng bất lực không kém: “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” Đất nước mình ngộ quá phải không anh
      Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
      Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
      Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi... Đất nước mình lạ quá phải không anh
      Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
      Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
      Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay... Đất nước mình buồn quá phải không anh
      Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
      Rừng đã hết và biển thì đang chết
      Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa... Đất nước mình thương quá phải không anh
      Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
      Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
      Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu... Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
      Anh không biết em làm sao biết được
      Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
      Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu... Câu hỏi “Đất nước mình rồi sẽ về đâu” được một cây bút nghiệp dư từ Oregon trả lời vài giờ sau khi bài thơ được cô giáo Lam post trên Facebook của mình. Bài thơ mang tên: “Anh trả lời liền…” Anh trả lời liền. . . Anh trả lời liền đất nước sẽ về sau Khi thế giới đã về từ lâu lắm Bởi cả nước được đảng bồng, đảng ẳm Nên nhân dân hạnh phúc quá còn gì?   Đất nước mình vì thế chẳng chịu đi Bởi đôi chân đã trở thành đất sét Tiến sĩ giấy ngồi nhìn nhau lấm lét Sợ đảng không tin nên phải viết điều thừa   Đất nước mình biển vẫn bạc như xưa Chỉ có điều là bạc mầu cá chết Rừng còn đó không bao giờ cháy hết Dù đảng ta vẫn nhiệt liệt phá rừng   Em đừng hỏi chiếc bánh chưng to thế Để làm gì khi dân chúng đói meo Nhưng em ơi đấy chỉ là bánh vẽ Thì dẫu to hay bé có hết nghèo?   Em đừng buồn khi dân không chịu lớn Bởi lớn lên dân sẽ bị đảng “đì” Dân khôn lắm họ núp sau bóng đảng Giả ngu si cho đảng khỏi tự ti   Đảng yêu dân nên làm điều sai quấy Cũng chẳng qua sợ dân chọn sai đường Dân cõng nợ là yêu thương cõng đảng Xét cho cùng thì cũng chỉ trơ xương   Đất nước mình tuy có ngộ đấy em Nhưng nghĩ lại không có gì khó hiểu Dân vẫn thấy nồi cơm to hơn văn miếu Thì em ơi mấy ngàn năm nữa vẫn bị đảng lừa… Bài thơ chấm dứt bằng câu khẳng định: sự lừa dối của đảng vẫn thế nếu dân mình cứ xem nồi cơm hơn mọi thứ khác, trong đó có văn hóa, lịch sử, chính trị cũng như ý niệm về tự do dân chủ. Ý nghĩa của bài thơ lồng chéo đan nhau làm thành chiếc võng chắc chắn cho người đọc nó nằm lên tha hồ suy gẫm. Cũng viết về đảng khi trả lời cho cô giáo Lam, một tác giả không nêu tên khẳng định đảng là ánh sáng soi đường, soi cả đường đi lối về của dân chúng. Soi như con cò cần mẫn soi mồi cho đàn cò con đang lóp ngóp chờ cò mẹ ở nhà. Có điều là giống với nhiều tác giả khác, bài thơ kết lại với sự hối hận âm ỉ và tiếng than cháy bỏng của người viết về những câu hỏi đáng ra mọi người đều phải trằn trọc với những cách trả lời khác nhau. Bài thơ mà cô giáo Lam đưa ra, lại nhận được từ những tác giả khác với những câu trả lời mà chính cô cũng không ngờ tới. Đảng ta ánh sáng soi đường. Đất nước mình chẳng có ngộ đâu em Năm ngàn năm dân cũng không cần lớn Bởi ngày ngày đảng chăm lo bú mớm Dân đói dài, đảng nhà nước phải “no”   Đất nước mình chẳng có lạ đâu em Nồi lẩu, bánh chưng…hay tượng đài nghìn tỷ Từ biển rộng, sông dài và non sông hùng vĩ Cả 90 triệu con người là của “đảng” mà em   Đất nước mình vui quá chứ em Biển giao “bạn vàng”, rừng cho Tàu thuê nốt Rừng chẳng cần, biển chết thì cứ chết Khẩu hiệu bây giờ là “còn đảng, còn ta”   Đất nước mình sao em lại phải thương Lũ trẻ kia làm mầm non của đảng Một số đứa sẽ được sang tư bản Cứ cúi đầu. . . tiếp bước đảng quang vinh   Đừng hỏi anh, đất nước sẽ về đâu? Mỗi lời em, như một đường dao cắt Lưỡi dao ấy không bằng đồng, sắt Mà thấu tận tim mình. . . Hãy hỏi “đảng” . . . Nghe em “Đất nước mình không ngộ quá đâu em” Và rồi một bài thơ khác lại xuất hiện, trả lời cho cô giáo Lam với cái tựa khá hấp dẫn: “Đất nước mình không ngộ quá đâu em”.   Cá chết ở bờ biển huyện Quảng Trạch, Quảng Bình hôm 20/4/2016.   Tác giả Baron Trịnh tỏ ra nghiêm túc khi dùng những điển tích được lịch sử hóa thành rồng thành tiên trong suốt một chặng dài của lịch sử dân tộc. Bài thơ họa lại ý chính của cô giáo Lam ở từ “ngộ”. Ngộ có thể được xem là ngộ nghĩnh hay một trạng từ chỉ sự ngạc nhiên. Không ngạc nhiên sao được khi chúng ta cùng ngồi chung con thuyền của thế kỷ 21 nhưng tâm thế thì cứ như người của thế kỷ thứ nhất khi mà con người còn tiếp cận với nhau như các siêu nhân để từ đó mọi biến động nhân quần đều đổ vấy cho lịch sử. Đất nước mình cũng thế, từ thời chúng ta còn là những chiếc trứng đã nảy sinh chuyện chia đôi cũng như huyền thoại thánh Gióng chưa bao giờ được chúng ta xem là tâm lý AQ đầy trắc ẩn. Một đất nước quá nhiều huyền thoại thì sản sinh ra những kẻ hoạt đầu là điều không nên hối tiếc than van. Baron Trịnh thẳng thắn trả lời cái mấu chốt ấy cho cô giáo Lam bằng 4 câu kết đầy sức hút: Em hỏi đất nước mình rồi sẽ về đâu? / Anh chưa biết nhưng có một điều rất tuyệt / Chưa biết về đâu nhưng cứ đi tắt đón đầu là duyệt  / Chưa biết về đâu nhưng cứ phải tiến lên đầu! Đất nước mình không ngộ quá đâu em 
      Dù bốn nghìn năm dân vẫn không chịu lớn 
      Bởi tổ tiên ta sinh ra không là con mà là trứng 
      Khi cha mẹ ly hôn nào có dám kêu đòi 

      Đất nước mình không lạ quá đâu em 
      Thánh Gióng lên ba đã ăn cơm nong cà thúng 
      Chử Đồng Tử úp nón thành cung điện nguy nga sừng sững 
      Cùng một cha, Tấm làm mắm Cám rất bình thường 

      Đất nước mình không buồn quá đâu em 
      Dù biển bạc rừng vàng giờ đây đang cạn kiệt 
      Nhưng có nồi cơm Thạch Sanh ăn mãi không bao giờ hết 
      Nàng Tô Thị chờ chồng nghìn năm lẻ có gì đâu 

      Đất nước mình có gì mà phải thương đau 
      Vì đến tiều phu cũng mơ làm hoàng đế 
      Nên chút nợ nần là chuyện nhỏ như con dế 
      Đánh thắng ba siêu cường sợ gì đám năm châu 

      Em hỏi đất nước mình rồi sẽ về đâu? 
      Anh chưa biết nhưng có một điều rất tuyệt 
      Chưa biết về đâu nhưng cứ đi tắt đón đầu là duyệt 
      Chưa biết về đâu nhưng cứ phải tiến lên đầu! Một tác giả khác, Cương Biên, viết những dòng thơ nhẹ nhàng hơn gửi cho cô gáo Lam, và tác giả biết rằng cô giáo ấy hôm nay không thể ngủ. Với tựa bài thơ: “Uất hận quá rồi nước mắt chảy vào tim” Cương Biên thay cô giáo Lam viết tiếp những trăn trở quanh mình. Những hình ảnh tan nát của quê hương chập chờn trong giấc ngủ của cô cũng như nỗi ám ảnh của hàng loạt cá tôm chết trắng bờ biển đã làm tác giả phải thảng thốt: Cô không thể soạn tiếp bài
      Bởi hồn lạc về Hà Tĩnh
      Nơi nước mắt nhân dân đang chảy dài về phía biển
      Và biển chiều ứa máu oan khiên Có lẽ đêm nay cô lại trắng đêm
      Chập chờn bãi bờ phủ đầy tôm cá chết
      Chập chờn tiếng thở dài thấu đêm đen những con thuyền cắm sào trên bến
      Chẳng dám ra khơi ngay giữa biển quê mình Có lẽ đêm nay cô lại trắng đêm
      Chập chờn lúa chết khô giữa thì con gái
      Chập chờn ruộng đồng nứt nẻ hoang bờ bãi
      Những đàn bò ăn cả bao nilon Có lẽ đên nay cô lại trắng đêm
      Bởi giật mình Đền Hùng thất thủ
      Bao nhiêu tượng đài ngổn ngang đổ vỡ
      Xoang xoảng nứt niềm tin Có lẽ đêm nay cô lại trắng đêm
      Bởi bóng ma những chợ trời hóa chất
      Cứ lượn dọc lượn ngang giữa những đàn gia súc
      Toác miệng cười trên những cánh đồng xanh Có lẽ đêm nay cô lại trắng đêm
      Mơ thấy con cháu mình biến đổi gen mang hình thù kỳ quái
      Thấy dải đất chữ S co rúm lại
      Rồi bay ra khỏi bản đồ… Đêm đã khuya rồi căm phẫn chẳng thành thơ
      Chắc nhiều người cũng như cô thêm một đêm khó ngủ
      Học trò ơi đất nước này là của ai hãy nhìn cho tỏ
      Uất hận quá rồi, nước mắt ngược vào tim… Chỉ một bài thơ ngắn lại có sức mạnh lay động hàng triệu con tim trên mạng xã hội cho chúng ta thấy được nhiều điều, đó là niềm tuyệt vọng nào cũng có giới hạn của nó. Chảy tới đâu thì nước cũng vẫn là nước, chỉ có con người là tồn tại và ngay cả tồn tại trong nỗi đau đớn bất lực nhất mà thượng đế đã ban cho. Cô giáo Lam mới đây có tin bị công an mời làm việc để yêu cầu gỡ bỏ bài thơ khỏi trang Facebook của cô. Cộng đồng mạng lại một phen bàn ra tán vào trước cách hành xử kỳ lạ này, bởi, không một thế lực nào có thể làm thay đổi dòng chảy của thơ khi nó được viết với tâm thế của sự trăn trở chứ không phải theo đơn đặt hàng như các nhà thơ lớn nhỏ đang xếp hàng chờ để được ghi tên vào Hội nhà thơ các loại…
    • Xuất hiện đề nghị Chính phủ Mỹ giúp vấn đề cá chết ở miền Trung Việt Nam
      Mới đây, trên trang web Kiến nghị của Nhà Trắng đã xuất hiện bản kiến nghị chính phủ Hoa Kỳ có những hỗ trợ người dân miền Trung trước thảm họa môi trường xảy ra.   Trang web với kiến nghị của người dân Việt Nam Hiện tượng cá chết với nguyên nhân bị nhiễm độc tại các tỉnh miền Trung hiện nay đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của người dân cả nước. Đặc biệt hơn, mọi sự chú ý đều đang dồn về Formosa, khu công nghiệp với hoạt động xả thải liên tục ra môi trường.   Ảnh hưởng tới đời sống của người dân các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế… đã thấy rất rõ khi người dân không còn có thể khai thác cá, chưa kể đến việc phát triển ngành dịch vụ tại địa phương vì khách du lịch đã có những e ngại về môi trường.    Cá chết xuất hiện dọc bờ biển miền Trung Ngày hôm qua trên trang gửi Kiến nghị tới Nhà Trắng của chính phủ Hoa Kỳ đã xuất hiện một bản đề xuất : "Hỗ trợ người dẫn Việt Nam ngăn chặn thảm họa môi trường tại tỉnh Hà Tĩnh, miền Trung” tại địa chỉ này.   Nội dung bản đề xuất này nếu rõ: “Đã có hàng tấn cá, trong đó có cả những loài quý hiểm sống ở vùng nước sâu cách xa bờ biển đã chết trên bờ biển dọc các tỉnh miền Trung của Việt Nam là Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Bình và Huế.    Người dân địa phương đang nghi rằng nước thải và các hóa chất độc hại được thải từ các nhà máy thép đang gây ra ô nhiễm dẫn tới tình trạng này.   Chúng tôi đề nghị Chính phủ Liên bang giúp đỡ người dân Việt Nam bằng cách đưa ra các đánh giá về ảnh hưởng tới môi trường của nhà máy thép. Ngoài ra cũng đề nghị Tổng thống Obama đưa vấn đề này với Chính phủ Việt Nam trong chuyến thăm vào tháng 5”.   Chỉ sau 1 ngày xuất hiện, bản đề xuất đã có hơn 5.000 người ủng hộ.    Trang web Kiến nghị này hoạt động theo nguyên tắc, bất kỳ người nào cũng có thể đưa vấn đề của họ tại đây. Sau đó tiến hành kêu gọi mọi người cùng chung tay ký vào bản đề xuất. Nếu được 100.000 người đồng tình trong 30 ngày, Nhà Trắng sẽ có phản hồi chính thức về vấn đề được nêu.   (BizLIVE)
    • Cẩn trọng trước hợp tác trên biển giữa Trung Quốc và Nga
      Dù tồn tại nhiểu bất đồng từ nhưng những dấu hiệu gần đây khiến Mỹ và khu vực cần phải cẩn trọng và theo dõi những ý định của hai quốc gia này, đặc biệt là trên vấn đề Biển Đông.       Mặc dù có rất nhiều tín hiệu cho thấy quan hệ Nga-Trung đang ngày một gần gũi hơn, song những người có quan điểm bi quan cho rằng Moskva và Bắc Kinh vẫn bị cản trở và chưa thể vượt qua khỏi sự hợp tác một cách “thờ ơ”. Lịch sử rắc rối thời Chiến tranh Lạnh, sự bất đồng về văn hóa, cạnh tranh địa chính trị, sự bất cân bằng về kinh tế và nhân khẩu học và thậm chí sự coi thường theo bản năng được cho là tổng hợp vô số các lý do tại sao Trung Quốc và Nga không thể hòa hợp, chưa kể đến việc cùng nhau tham gia phối hợp chiến lược.    Tuy nhiên, cán cân quyền lực đang thay đổi nhanh chóng ở phía Tây Thái Bình Dương (chưa kể đến hơn 30 năm ổn định quan hệ song phương) gây hiểu sai về mối quan hệ này. Các vũ khí trong chiến lược chống tiếp cận/chống xâm nhập (còn gọi là A2/AD) của Trung Quốc trong thập niên hiện tại và tiếp theo là các biến thể phức tạp của máy bay đánh chặn Flanker và chiến đấu cơ mà Bắc Kinh đã mua và triển khai hàng trăm chiếc. Hiện tại, các chiến đấu cơ J-11, J-15 và J-16 của Trung Quốc đều là các bản “sao chép biến thể” của các thiết kế thành công của Nga. Trung Quốc cũng vừa ký hợp đồng mua hàng chục chiến đấu cơ Su-35 từ Moskva. Một ví dụ khác đó là các tên lửa chống hạm siêu thanh YJ-12 và YJ-18 đang được triển khai lần đầu tiên. Cả hai vũ khí này đều là các sản phẩm Trung Quốc sao chép từ các tên lửa của Nga. Đó là chưa kể đến công nghệ tàu ngầm và hệ thống phòng không. Kể từ đầu những năm 1990, các nguồn lực của Bắc Kinh đã giúp các nhà sản xuất vũ khí Nga sống sót qua các năm “thất thu”, trong khi Moskva đã giúp Trung Quốc có bước nhảy vọt ngoạn mục trong lĩnh vực vũ khí tiên tiến.    Cùng thời điểm các diễn biến nói trên mở ra các lợi ích chiến lược trong hai thập kỷ qua, một chương trình hợp tác quân sự mang tính tham vọng hơn hiện đang được triển khai. Cụ thể, cuộc tập trận hải quân chung với quy mô chưa từng có và ngày một tăng lên trong năm 2014 và 2015 cho thấy mức độ nghiêm túc của hai nước. Cuộc tập trận tháng 5/2014 trên biển Hoa Đông có sự tham gia của 14 tàu và 2 tàu ngầm. Đây là lần đầu tiên cuộc tập trận hải quân Nga-Trung bao gồm cuộc diễn tập “đối đầu” giữa tàu ngầm và các tàu trên bề mặt. Điểm nhấn khác của cuộc tập trận hải quân này là sự tập trung vào học thuyết tấn công “vượt đường chân trời” của Hải quân Nga “như là các chiến thuật hiệu quả nhất chống lại các hạm đội tàu sân bay Mỹ”.    Một năm sau đó, 9 tàu chiến đã tham gia vào cuộc tập trận hải quân chung khác giữa Nga và Trung Quốc. Điều khiến nhiều người bất ngờ đó là cuộc tập trận này diễn ra ở Biển Đen- khu vực căng thẳng quân sự kể từ khi cuộc khủng hoảng Ukraine bắt đầu hồi cuối năm 2013. Đặc biệt, bài miêu tả trên tạp chí “Shipborne Weaponry” về cuộc tập trận trên Biển Đen cho thấy cuộc tập trận này cũng bao gồm thành tố tác chiến chống ngầm (ASW), cũng như nỗ lực để phát triển hình ảnh hoạt động chung (COP) để hai hạm đội hoạt động cùng nhau.    Tuy nhiên, một cuộc tập trận hải quân chung Nga-Trung vẫn là chưa đủ, và một cuộc tập trận với quy mô lớn hơn đã diễn ra trên biển Nhật Bản trong tháng 8/2015. Cuộc diễn tập đó có sự tham gia của 23 tàu hải giám, 2 tàu ngầm, 15 máy bay cánh cố định, 8 máy bay trực thăng cũng như lực lượng không quân và hải quân, cấu thành cuộc tập trận hải quân chung lớn nhất từ trước đến nay giữa Trung Quốc và Nga. Cuộc tập trận này, diễn ra ngoài khơi Vladivostok, giải quyết nhiều mục tiêu, không chỉ bao gồm ASW mà còn các biện pháp chống mìn và tấn công đổ bộ.    Theo một bài báo khác trên tạp chí “Shipborne Weaponry”, các cuộc tập trận mô phỏng của hải quân Nga-Trung đã phát triển từ các cuộc diễn tập trao đổi thông tin đơn thuần lên chia sẻ thông tin tình báo có giới hạn và lên chuyển giao dữ liệu radar và sonar. Tác giả bài báo nhận thấy “sự hợp tác (hải quân) ngày một gần gũi hơn” và mức độ ngày càng tăng của “chủ nghĩa hiện thực chiến đấu”. Với 7 tàu hải giám tham gia tập trận, trong đó có 2 tàu tấn công đổ bộ Loại 071 mới, cam kết của Bắc Kinh đối với hoạt động chung này là không còn nghi ngờ.    Tuy nhiên, điểm mới duy nhất trong cuộc tập trận này là sự tham gia của nhiều máy bay Trung Quốc bay từ nước này sang Nga, gồm các chiến đấu cơ J-10 và J-7, và thậm chí máy bay cảnh báo sớm KJ-200 của Lực lượng Không quân Trung Quốc . Việc triển khai nền tảng vô cùng giá trị trong cuộc tập trận này thực sự truyền tải thông điệp rằng Trung Quốc và Nga đang tìm kiếm đưa quan hệ quân sự lên tầm cao mới.    Thật nực cười rằng cuối những năm 1950, khi kết thúc “kỷ nguyên vàng” của hợp tác chiến lược Trung Quốc-Liên Xô, vấn đề hợp tác hải quân, đặc biệt là việc yêu cầu máy phát tín hiệu tàu ngầm của Liên Xô được đặt ở Đông Bắc Trung Quốc, là điểm chính trong mối nghi ngờ của hai nước. Hiện nay, hợp tác hải quân dường như là một khía cạnh ngày một tích cực trong việc phát triển quan hệ giữa “gấu panda” và “gấu Bắc cực”. Tất nhiên, vẫn còn nhiều lĩnh vực hợp tác hải quân mà Moskva và Bắc Kinh chưa khảo sát. Ví dụ như tàu ngầm hạt nhân không hề được nhắc tới trong các cuộc tập trận nói trên. Tuy nhiên, việc Mỹ theo đuổi các chính sách khiến các nước lớn ở châu Á và châu Âu tiến tới liên minh quân sự dường như đang đi ngược các lợi ích quốc gia Mỹ.    Lyle J. Goldstein là phó giáo sư tại Viện Nghiên cứu biển Trung Quốc (CMSI) tại Học viện Hải chiến Mỹ, Newport, Rhode Island. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả và được đăng trên The National Interest.   Văn Cường (gt)    (Nghiên Cứu Biển Đông)
    • “Cá hay thép”: Các xã hội đã sụp đổ từ những lựa chọn như thế nào?
      Liệu lợi nhuận kinh doanh và bảo vệ môi trường có luôn trong thế đối lập nhau? Liệu có thật là chúng phải bắt buộc phải có lựa chọn một mất một còn “Chọn cá hay chọn thép”?   Hình minh họa Bắt đầu chương 15 của cuốn ‘Sụp đổ”, Jared Diamond, một trong những trí thức vĩ đại nhất hiện nay, đã đặt ra một vấn nạn“Các ngành kinh doanh cũng lên án các nhà môi trường thường xuyên lờ đi và không quan tâm tới các thực tiễn kinh doanh, không quan tâm tới nguyện vọng của cư dân địa phương và chính phủ các nước về vấn đề việc làm và phát triển, đặt vấn đề bảo vệ chim chóc lên trên bảo vệ con người, và không khen ngợi các ngành kinh doanh….”
      Diamond, bằng trí tuệ bác học và tinh thần dấn thân, đã đi xuyên suốt qua nhiều lục địa, đã đọc hàng nghìn tài liệu về các xã hội cổ đại lẫn ngày nay, để khẳng định rằng tổn hại môi trường là nguyên nhân then chốt nhất trong tất cả các sự sụp đổ mà các nền văn minh phải hứng chịu. Quan trọng hơn, không có cái gì là sự lựa chọn “cá hay thép”, chỉ có việc chúng ta học lấy những bài học sụp đổ của các nền văn minh xưa để tiếp tục sinh tồn trên “hòn đảo” trái đất biệt lập này. Bởi "Sự tương đồng giữa đảo Phục Sinh và thế giới hiện đại rõ ràng đến rợn người” ông viết. Nếu hàng ngàn người sống trên đảo Phục Sinh với các công cụ chỉ là đá và sức mạnh cơ bắp của mình đã đủ để phá hủy môi trường của họ và do đó phá hủy xã hội của họ, làm thế nào hàng tỷ người với các công cụ kim loại và điện máy lại không thể làm tồi tệ hơn?".
      Có lẽ hình ảnh về sự hoang phế của đảo Phục Sinh trong cuốn sách sẽ gợi chúng ta đến sự kiện cá chết hàng loạt dọc bờ biển bốn tỉnh miền Trung. Và không bài học nào là cũ.
      Tại Đảo Phục sinh thuộc phía Nam Thái Bình Dương của Chile, có những bức tượng đá khổng lồ nổi tiếng thế giới, gọi là Moai, được những người khai hoang Polynesia dựng lên từ khoảng 1000-1100 sau công nguyên. Ở đây có tới “397 tượng đá được tạc đẽo cách điệu hóa hình những thân mình đàn ông không chân, tai dài, đa số có chiều cao từ 4,5 - 6 mét nhưng bức lớn nhất có chiều cao tới 21 mét (cao hơn cả một tòa nhà năm tầng trung bình) và nặng từ 10-270 tấn.” Tượng trên Đảo Phục Sinh Khi nhà thám hiểm Jacob Reggeveen đặt chân lên hòn đảo này lần đầu tiên năm 1772, ông viết: "Ban đầu từ xa chúng tôi thấy đảo Phục Sinh như một đảo cát, lý do bởi chúng tôi tin rằng cát đã phủ lên những thảo nguyên, khiến cỏ bị tàn lụi, làm khô héo hay đốt cháy các loài thực vật khác, bởi bề ngoài khô cằn của hòn đảo khiến người ta có ấn tượng rằng đó là một vùng đất đặc biệt cằn cỗi và nghèo nàn".
      Tuy nhiên tất cả những gì nhà thám hiểm nhìn thấy được chỉ là vết tích của một xã hội sụp đổ. Nguyên nhân của sự sụp đổ này là gì? Trớ trêu thay, những tương đá khổng lồ làm đảo phục sinh nổi tiếng lại chính là lý do làm nó suy tàn. Để di chuyển và dựng được những bước tượng kì vĩ như thế, các bộ tộc, do tranh đua xem ai dựng được những bức tượng to nhất nhằm chứng tỏ sức mạnh của mình, đã chặt đến những cái cây cuối cùng trên đảo, để có thể dùng chúng làm bàn di chuyển.
      Một sự sụp đổ, không phải do núi lửa phun trào, khí hậu khắc nghiệt, dịch bệnh chết người..mà do chính sự ngu xuẩn của con người tạo ra.
      Jared Diamond, tác giả cuốn sách nổi tiếng toàn cầu "Súng, vi trùng và thép" đưa ra những lý giải về lý do tại sao một số nền văn minh lại thất bại trong cuốn sách Sụp đổ. Diamond liệt kê 5 yếu tố dẫn đến sự diệt vong của một số xã hội lịch sử, trong đó phải kế đến như Maya cổ xưa và người Yacatan, người dân đảo Phục Sinh, người Anasazi, vùng Lưỡi Liềm Trù Phú, Angor Wat, Đại Zimbabwe ...bao gồm:
      (1) Tổn hại môi trường.
      (2) Thay đổi khí hậu
      (3) Liên hệ giữa xã hội và các lân bang thù địch.
      (4) Liên hệ với những láng giềng thân thiện.
      (5) Cách đối phó của tập thể về mặt chính trị, kinh tế, xã hội trước những khó khăn xảy ra. Cuốn Collapse: How Societies Choose to Fail or Succeed, xuất bản tại Mỹ năm 2006, tại Việt Nam năm 2015 Trong đó, 4 nhân tố đầu có thể quan trọng hoặc không, đối với từng trường hợp nhưng yếu tố thứ 5, cách phản ứng của xã hội tới các vấn đề môi trường, luôn luôn đóng vai trò cực kì then chốt, qua những bằng chứng mạnh mẽ không chỉ trong quá khứ, mà còn ở các xã hội hiện đại. Trong chương gần cuối của cuốn sách dày gần 800 trang này, Jared Diamond đưa ra một số lý giải tại sao một xã hội lại đưa ra những quyết định để tự tiêu diệt chính sự tồn tại của họ? Hay áp dụng cho trường hợp đang nóng hiện nay, tại sao đến khi cá chết hàng loạt người dân Việt Nam mới bắt đầu suy nghĩ đến lựa chọn "Chọn thép hay chọn tôm cá".
      Tác giả cho rằng có 4 nguyên nhân lớn của việc tự sát tập thể này. Đầu tiên, là các xã hội không thể tiên liệu được vấn đề trước khi nó xuất hiện. Có nhiều lý do cho việc này. Thứ nhất, vì họ chưa từng trải qua vấn đề này, nên họ hoàn toàn không có kinh nghiệm. Lấy ví dụ như việc nhập cư cáo và thỏ của người Anh vào nước Úc những năm 1800, 1 trong những minh chứng tiêu biểu của sự tác động từ các sinh viên ngoại lại lên môi trường bản địa. "Lũ cáo đuổi bắt và tiêu diệt nhiều loài động vật có vú bản địa của Australia trước kia chưa từng biết tới loài cáo, trong khi thỏ ngốn rất nhiều loài thực vật lẽ ra dành để chăn nuôi cừu và gia súc, lấn át những loài thú ăn cỏ bản địa và tàn phá đất đai bằng những chiếc hang của chúng." Đây cũng là lý do mà tại sao khi tới Úc, bạn sẽ bị các nhân viên nhập cư hỏi xem mình có theo bất kì giống cây, động vật lạ nào đề phòng chúng trở thành địch hại khi sinh sôi nảy nở ở môi trường bản địa. Nền văn minh vĩ đại Maya ở Copan cũng không tiên liệu được rằng"phá rừng trên những sườn đồi sẽ khiến đất trên những sườn đồi bị xói mòn xuống đáy thung lũng”.
      Kể cả nhiều khi tiên liệu được, thảm họa vẫn xảy ra, vì chúng ta có xu hướng lãng quên nhiều điều. Ví dụ như "những năm 1950, thành phố Tucson tại Arizona trải qua một đợt hạn hán khắc nghiệt khiến những công dân của thành phố lo ngại và thề sẽ quản lý nguồn nước của mình tốt hơn, nhưng rồi họ cũng sớm quay trở lại cách sống phung phí nước như xây dựng các sân golf và lấy nước tưới cho những khu vườn." Trong trường hợp cá chết hàng loạt ở Hà Tĩnh, liệu những người có trách nhiệm có tiên liệu được trước nạn cá chết mà "có thể" do những chất cực độc được ra biển của nhà máy gang thép kia không? Hay họ cũng lại “quên” mất những thảm họa sinh thái biển có thể đi kèm khi xây dựng những nhà máy có tác động lớn tới môi trường như Nhà máy luyện gang thép Formosa?
      Nguyên nhân lớn thứ hai góp phần tạo ra thất bại của quyết định tập thể là mặc dù vấn đề xuất hiện, mọi người lại không nhận thức được nó. Có 3 tác nhân chính phổ biến mà Diamond vạch ra. Thứ nhất, nguồn gốc của vấn đề rất khó nhận thấy. Ví dụ, việc xác định nguyên nhân các chết ở đại dương rất phức tạp.Đến bây giờ, chúng ta mới chỉ loại bỏ nguyên nhân động đất, tràn dầu, dịch bệnh, môi trường nước gây cá chết hàng loạt, còn theo ông Ông Vũ Tuấn Nhân, thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, vẫn chưa xác định được tác nhân gây ra cá chết hàng loạt nhưng không loại trừ do độc chất được thải ra từ đất liền. Nếu chưa xác định vấn đề, thì rất khó để giải quyết nó.
      Tác nhân thứ 2 có thể là những người quản lý sống ở những nơi xa xôi, không sâu sát với thực tế. Lý do mà người dân cao nguyên New Guinea có thể phát triển đến tận bây giờ là bởi tất cả người dân trong thung lũng đều sinh sống trực tiếp tại đây, nên khi có bất gì sự thay đổi nào xảy ra, khả năng cảm nhận vấn đề của họ tốt hơn rất nhiều. Tác nhân thứ 3 và phổ biến nhất là do vấn đề diễn ra rất chậm và tích lũy dần theo thời gian, nên rất khó để nhận biết được khi nào nó thực sự hiện hữu. Ví dụ như trong trường hợp xả thải ra biển bắt đầu từ năm 2015, các hoát chất không tiêu diệt các loài cá ngay tức khắc, mà dần dần tích tụ lại theo năm tháng đến một ngày bùng phát, và “có thể” chúng là nguyên nhân gây ra nạn cá chết hàng loạt hiện nay.
      Nguyên nhân lớn thứ ba của sự sụp đổ là dù tiên liệu được, dù nhận thức được, nhưng các xã hội lại không nỗ lực để tìm cách giải quyết vấn đề đó. Việc này xảy ra do sự xung đột lợi ích giữa các bên, nghĩa là hành động này có thể "tốt cho tôi, xấu cho anh và tất cả những người khác", và hậu quả thì cả xã hội phải gánh chịu. 
      Ví dụ các công dân bang Montana, Mỹ đã phải chịu những hậu quả nặng nề vì chính sách của bang đã tạo động lực để các công ty thu lợi cho mình và quên đi lợi ích của xã hội. Tác giả viết: "Năm 1971, tiểu bang Montana thực tế đã thông qua một đạo luật quy định việc này, nhưng các công ty mỏ phát hiện ra rằng họ có thể khai thác các loại quặng có giá trị và sau đó tuyên bố phá sản thì sẽ không phải trả khoản chi phí làm sạch. Hậu quả là các công dân Montana phải gánh chịu khoản chi phí 500 triệu đô-la làm sạch môi trường và ban lãnh đạo của công ty Khai thác mỏ Mỹ ý thức được rằng pháp luật cho phép họ tiết kiệm tiền cho công ty, và tăng cường lợi ích cá nhân của mình thông qua các khoản tiền lương và thưởng cao, bằng cách gây ra tình trạng hỗn độn rồi để lại gánh nặng cho xã hội giải quyết. "
      Biển là một của chung, và mọi người sẽ cố gắng thu nhận nhiều lợi ích cá nhân nhiều nhất có thể từ nó. Bởi vì, nếu họ có không làm, thì vì quyền lợi và nghĩa vụ không được phân chia rõ ràng, người khác sẽ tranh mất để giành tư lợi. Do "cha chung không ai khóc", tất cả đều cố gắng gặt hái hết mức đến khi không còn gì còn xót lại, và kết quả sự sụp đổ cả môi trường sinh thái và kéo theo sự sụp đổ của xã hội sống phụ thuộc vào nó. Đó là thông điệp xuất hiện liên tục trong bản trường thiên lịch sử này.
      Có một xung đột lợi ích khác xảy ra là giữa những người có quyền quyết định, trong trường hợp này là các lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh với lợi ích của những người còn lại trong xã hội, trong trường hợp này trước hết là ngư dân đánh cá ven biển miền Trung. (Ban quản lý khu kinh tế Vũng Áng đã cấp phép cho Formosa tổng diện tích thực hiện dự án hơn 3.300 ha, bao gồm cả diện tích mặt biển (cảng Sơn Dương), thời gian thuê đất là 70 năm, tiền thuê đất hơn 96 tỷ đồng cho toàn bộ thời gian thuê. Và ống xả xả thải ra biển của Formosa còn được sự cho phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam. Bình quân mỗi ngày Công ty FHS xả khoảng 12.000 m3 nước thải qua đường ống này.)
      Nhìn lại suốt lịch sử thế giới, Diamond viết "việc hành động hay không hành động của những vị vua, những thủ lĩnh và những chính trị gia ích kỷ, chỉ biết quan tâm tới lợi ích của bản thân thường là nguyên nhân khiến xã hội sụp đổ, trong đó có những vị vua Maya, những thủ lĩnh của người Norse ở Greenland và những chính trị gia Rwanda hiện đại đã được thảo luận trong cuốn sách này. Chính do thèm khát quyền lực nên các thủ lĩnh trên đảo Phục Sinh và các vị vua Maya có những hành động khiến hoạt động phá rừng càng thêm trầm trọng chứ không ngăn chặn nó, bởi địa vị và uy tín của họ phụ thuộc vào việc dựng những bức tượng và những đền đài ngày càng lớn hơn so với các đối thủ của mình.”
      Bài học thành công ở những xã hội sống sót là làm sao nhóm thiểu số lãnh đạo không thể tách mình ra khỏi những hậu quả do hành động của họ gây ra. Ví dụ trong trường hợp Hà Lan, hành động quyết liệt của chính phủ trong việc bảo vệ môi trường là"do phần lớn dân chúng, cả những chính trị gia và những thường dân, đều sống trên vùng đất nằm dưới mực nước biển, nơi chỉ có những con đê chắn ngang giữa họ và nguy cơ ngập lụt, nên những quy hoạch đất đai ngớ ngẩn của các chính trị gia có thể cũng gây nguy hiểm cho chính bản thân họ. Ở các tỉnh miền Trung, liệu cá chết thì "bữa ăn" của các nhà lãnh đạo có khác đi chút nào không?
      Ngoài ra, tâm lý phủ nhận cũng tồn tại khi mọi người không cố gắng chịu bắt tay vào giải quyết vấn đề mà vẫn cố tranh bua rằng mình không sai. Diamond có kể một ví dụ rất hay như sau: "Hãy xem xét ví dụ về một lưu vực sông nhỏ nằm dưới một con đập cao, nếu con đập đó vỡ, nước lụt sẽ nhấn chìm và cuốn trôi tất cả người dân trong thung lũng xuống vùng hạ lưu xa xôi. Khi các nhà điều tra xã hội hỏi những người sống dưới chân đập rằng họ có lo lắng con đập sẽ vỡ không, thì sẽ là bình thường khi những người sống càng xa đập thì càng ít lo lắng so với những người sống gần đập. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là, những người dân sống cách đập tới vài kilômét thì lại sợ vỡ đập nhiều nhất, những người càng sống gần đập, càng ít sợ nguy cơ vỡ đập! Có nghĩa là, những người sống ngay dưới đập, và có nhiều nguy cơ bị nhấn chìm nhất nếu vỡ đập lại tỏ ra chẳng hề lo sợ. Đó chính là hiện tượng tâm lý phủ nhận: cách duy nhất để bảo vệ sự tỉnh táo của con người khi hằng ngày phải nhìn vào đập là phủ nhận khả năng nó có thể bị vỡ. Mặc dù tâm lý phủ nhận là một hiện tượng tâm lý cá nhân rõ ràng nhưng dường như nó cũng áp dụng với tâm lý tập thể." 
      Ví dụ như trong trường hợp này, sau 11 ngày xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt, ông Hoàng Dương Tùng, phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường thuộc bộ Tài nguyên Môi trường, mới xuất hiện và phán: “Cá chết là có nguyên nhân, chứ không phải tự nhiên mà chết. Tuy nhiên, việc xác định nguyên nhân cá chết trên biển là rất phức tạp… Ở đại dương, cá chết có thể là do sức ép của âm thanh, sóng, động đất…”
      Hay như tại "tại Thiên Tân (Trung Quốc) hồi tháng 8-2015, sau thảm họa nổ nhà kho chứa hóa chất khiến 114 người thiệt mạng, người dân phát hiện hàng ngàn con cá chết trắng cả bờ sông Hải Hà chảy qua TP Thiên Tân." Cựu lãnh đạo Trung tâm Giám sát môi trường Thiên Tân, cho biết rằng: "cho biết nước sông Hải Hà không có nồng độ xyanua ở mức độc hại. Ông thay vào đó khẳng định cá chết là do sông… ô nhiễm từ trước đến nay, cộng với nhiệt độ cao mùa hè khiến mức ôxy giảm mạnh."
      Thật khó để nhận lỗi khi mình sẽ phải là người chịu trách nhiệm chính thức!
      Nguyên nhân lớn thứ 4 của sự thất bại về chuyện các xã hội tự đào hố chôn mình do là họ đã cố gắng giải quyết, nhưng lại không thành công. Rừng đã chặt hết, đất đã bạc màu, đê đỡ vỡ, nước đã nhiễm độc quá nặng, cá đã chết hàng loạt, mọi vấn đề đã nằm ngoài khả năng giải quyết, và xã hội chỉ chờ đến ngày sụp đổ. 
      Điển hình như trường hợp ở Nhật Bản với cơn ác mộng mang tên "hội chứng Minamata." Bất chấp những cảnh báo từ người dân và các nhà bảo vệ môi trường, chính phủ đã để mặc "nhà máy sản xuất acetaldehyde của Tập đoàn Chisso tại thị trấn này đã đổ thải trái phép gần 27 tấn chất metyl thủy ngân không qua xử lý vào vịnh Minamata. Lượng hóa chất khổng lồ này đã tích tụ trong sò và cá của vùng vịnh, đầu độc người dân Nhật Bản. Năm 2001, có khoảng 1.700 trong số 2.200 người bị chết vì bị ảnh hưởng bởi độc chất từ nhà máy hóa chất ở miền Nam Nhật Bản, là do bị ngộ độc vì ăn cá ở địa phương. Sau hơn 50 năm dai dẳng, tòa án Nhật Bản vẫn còn đang phải thụ lý nhiều vụ kiện bồi thường liên quan đến bệnh Minamata, theo Japan Times."
      Tựu chung, Diamond đã xác định ra bốn lý do chính mà xã hội có thể đưa ra những quyết định tại hại. 
      Thứ nhất, họ không tiên liệu trước được vấn đề. 
      Thứ hai, đến khi vấn đề xuất hiện, họ cũng không biết. 
      Thứ ba, đến khi biết được vấn đề, họ cũng không cố gắng giải quyết vì mâu thuẫn lợi ích.
      Và thứ tư, khi mọi chuyện đã quá muộn, họ muốn cũng không thể hoặc việc giải quyết sẽ quá tốn kém.
      Kết thúc chương 14 của cuốn sách Sụp đổ, Diamond vẫn đặt hi vọng vào những nhà lãnh đạo tài ba, bên cạnh những nhà lãnh đạo ấu trĩ đã đưa xã hội của mình đến sụp đổ.
      Ông viết: "Những lãnh đạo như vậy thường phải đối mặt với những lời chỉ trích hay nhạo báng bởi họ hành động trước khi mọi người nhận thấy sự cần thiết của những hành động đó. Nhưng cũng còn nhiều nhà lãnh đạo can đảm, sáng suốt và mạnh mẽ như vậy xứng đáng để chúng ta ngưỡng mộ. Họ là những tướng quân của Tokugawa đã chặn đứng tình trạng phá rừng từ rất lâu trước khi chúng trở thành thảm họa như đảo Phục Sinh; Joaquín Balaguer, (cho dù vì bất kỳ động cơ nào) đã ủng hộ mạnh mẽ các biện pháp bảo vệ môi trường ở phía đông bán đảo Hispaniola, phần cộng hòa Dominica, trong khi những đồng nhiệm ở phía tây Haiti không làm được như vậy; những thủ lĩnh người Tikopia chịu trách nhiệm trước quyết định diệt trừ loài lợn gây hại cho môi trường trên đảo, mặc dù lợn là loài vật được yêu quý tại Melenesia; và giới lãnh đạo Trung Quốc áp dụng chính sách kế hoạch gia đình trước khi dân số Trung Quốc trở nên quá đông và có thể trở thành thảm họa dân số như ở Rwanda. Những nhà lãnh đạo đáng khâm phục đó còn bao gồm Thủ tướng Đức Konrad Adenauer và những lãnh đạo Tây âu khác quyết định hy sinh lợi ích của đất nước để thống nhất châu âu thành một Cộng đồng Kinh tế châu âu, với mục tiêu chính là giảm khả năng gây ra những cuộc chiến tranh khác ở châu Âu. "
      Từ những bài học đó, với Việt Nam, giải pháp khả dĩ nhất, có lẽ như Diamond nói về các xã hội cổ xưa:“người lãnh đạo phải dũng cảm nhận biết được đâu là vấn đề đang phát sinh hay chỉ là một vấn đề tiềm tàng, và áp dụng những biện pháp mạnh mẽ để giải quyết vấn đề trước khi nó trở thành một cuộc khủng hoảng dễ bùng nổ."  
      * Bài viết thuộc bản quyền của Read Station, mọi trích dẫn và chia sẻ vui lòng dẫn nguồn trực tiếp.   (Read Station)
    • Thông báo của Formosa Hà tĩnh
      Ngày 26 tháng 4 năm 2016   Trong thời gian gần đây vùng biển Hà Tinh tới Quảng Bình và các khu vực lân cận bị ô nhiễm, dẫn tới một lượng lớn sinh vật biển bị chết cũng như gây ô nhiễm một diện tích bờ biển trên quy mô lớn, dẫn tới có nghi ngờ là do nước thải của công ty gang thép Formosa gây ra, dó đó Doanh nghiệp chúng tôi có vấn đề cần nói rõ như sau:   1. Liên quan tới vấn đề trong thời gian gần đây có hiện tượng ô nhiễm không rõ nguyên nhân trong vùng biển từ Hà Tĩnh tới Quảng Bình, dẫn tới một lượng lớn sinh vật biển tự nhiên tử vong trên diện rộng, doanh nghiệp chúng tôi( chúng tao) biểu thị sự kinh ngạc và cảm thấy làm tiếc, hơn nữa chúng tôi không thể hiểu nổi đối với sự việc tôm cá chết với số lượng lớn lần này.   2. Để tìm ra nguyên nhân tử vong của lượng lớn tôm cá lần này, chính quyền trung ương và địa phương của Việt Nam (bao gồm các đơn vị Môi trường, Công thương, Công an) đã tiến hành điều tra đối với tất cả các công xưởng nhà máy trên địa bàn khu công nghiệp kinh tế Vũng Áng (永安工业区) cũng như thành phố Kỳ Anh. Từ ngày 22 tháng 4 có nhiều đoàn cán bộ quan chức đã liên tục vào bên trong công xưởng của công ty gang thép Formosa tiến hành kiểm tra hệ thống xử lí nước thải, lấy mẫu nước thải. Bởi vì nước thải sau khi xử lí và nước mưa của công ty Formosa trước khi xả ra ngoài đều tiến hành kiểm tra kiểm nghiệm theo quy trình của công ty cũng như của địa phương quy định, phù hợp với tiêu chuẩn nước thải của Bộ tài nguyên môi trường Việt Nam. Cho tới hiện tại thì không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ sự liên can của chúng tôi đối với sự việc tôm cá chết hàng loạt trong thời gian gần đây.   3. Dự án sản xuất thép của công ty gang thép Formosa có vốn đầu tư đạt tới 10.5 tỉ USD, trong đó riêng hệ thống xử lí nước thải đã tiêu tốn 45 triệu USD, nước sau khi đã xử lí sẽ được đường ống dẫn vào nước biển( đường kính 1.2m, dài 1.3 km, có độ sâu 14.7m dưới mặt nước biển). Xưởng xử lí nước thải cũng như đường ống nước thải và các công trình liên quan đều được các bộ ngành hữu quan cấp phép, hơn nữa công suất cho phép là 45000 m3/ ngày, hiện tại thì công suất thải là 11000 m3/ ngày. Hệ thống xử lí nước thải được thiết kế để tự động giám sát 24/24, các số liệu của nước thải đều thấp hơn tiêu chuẩn của nhà nước cho phép.   4. Đối với sự kiện sinh vật biển tử vong trên quy mô lớn ở Hà Tĩnh, Quảng Bình lần này, công ty chúng tôi hy vọng chính phủ Việt Nam và các bộ ngành có liên quan điều tra tìm ra nguyên nhân đích thực, giải đáp thắc mắc của các giới xã hội có nghi vấn.   Người liên hệ : Thái Quốc Dương Bộ phận quan hệ công chúng công ty thép Formosa (84) 393722123 ext. 1116   Bản thông báo của Formosa Hà tĩnh Người dịch: Hồ Như Ý
        (FB. Đoan Trang)
    • Lê Phan - Về một chuyến đi
      Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Ashton Carte Trong suốt một tuần lễ vào đầu tháng 4 ở Á Châu, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Ashton Carter đã viếng thăm hai hàng không mẫu hạm, tiết lộ những thỏa thuận quân sự mới với Ấn Độ và Philippines, và nói chung đưa ra những chỉ dấu cho tất cả mọi người thấy là chính phủ Obama đã quyết định nghiêng về một giải pháp sử dụng vũ lực để đối chọi lại với tham vọng lãnh thổ của Trung Cộng trong vùng. Với một sự pha trộn vừa trình diễn vừa những biện pháp cụ thể trong suốt sáu ngày viếng thăm Ấn Độ và Philippines, Tiến Sĩ Carter đã cho thấy không còn nghi ngờ gì nữa là Hoa Kỳ có ý định tăng cường các liên minh và di chuyển thêm quân cụ và binh sĩ vào vùng để đối phó với sự bành trướng quân sự của Trung Cộng. Hôm Thứ Sáu 15 tháng 4, ông đáp trực thăng đến một biểu tượng của quyền lực Hoa Kỳ ở Biển Đông, một hàng không mẫu hạm hạt nhân loại Nimitz, chiếc USS John C. Stennis, trong khi mẫu hạm này đang đi qua Biển Đông trong khu vực mà Trung Cộng bảo là của họ. Chưa hết, trên mẫu hạm này, ông Carter loan báo một loạt những sáng kiến khác, kể cả việc Hàng Không Mẫu Hạm USS Stennis sẽ đi tuần thường xuyên trong vùng theo sau việc tham dự vào cuộc tập trận thường niên Mỹ Phi mang cái tên là Balikatan, có nghĩa là “sát cánh.”
        Trước khi viếng thăm Mẫu Hạm John C. Stennis, ông đã đánh dấu sự kết thúc của cuộc tập trận kéo dài 11 ngày và tuyên bố là một số binh sĩ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục ở lại “để đóng góp cho an ninh và ổn định trong vùng.” Đứng kế bên Bộ Trưởng Quốc Phòng Philippines Voltaire Gazmin, ông Carter tuyên bố là hai quốc gia đã có những cuộc đi tuần hải quân chung ở Biển Đông và Hoa Kỳ sẽ có những cuộc đi tuần như vậy với không quân của Philippines. Một thông cáo của bộ tư lệnh Không Quân Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương cũng cho biết là một đơn vị gồm khoảng 200 phi công và nhân viên hỗ trợ sẽ tiếp tục được triển khai ở Philippines. Đơn vị không quân này gồm 10 chiếc A-10C Thunderbolt từ căn cứ Osan ở Nam Hàn, ba chiếc Pave Hawks từ Phi trường Kadena của Nhật Bản. Mục đích của đơn vị này, theo thông cáo, là để “bảo đảm sự hiểu biết lãnh hải và không phận để đem lại an toàn cho các hoạt động quân sự và dân sự trong vùng biển và vùng trời quốc tế. Những chuyến bay này cũng để tăng cường cho các sứ vụ của các phi cơ tuần thám của Hải Quân P-8 Poseidon, hoạt động từ phi trường Clark của Philippines.” Chuẩn tướng Dirk Smith, giám đốc hoạt động không hành của Bộ tư lệnh Không quân Thái Bình Dương ở Honolulu giải thích “Việc duy trì đơn vị này chỉ là một cách mà chúng ta duy trì sự hiện diện liên tục và chứng minh quyết tâm của chúng ta cho các nước bạn và đồng minh trong khu vực Ấn độ-Á Châu-Thái Bình Dương.” Trước đó trong tuần, Bộ Trưởng Carter đã đến thăm một hàng không mẫu hạm của Ấn Độ, lần đầu tiên một vị bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ được mời lên một chiến hạm như vậy, và tuyên bố là Hoa Kỳ sẽ giúp Ấn Độ nâng cấp các hàng không mẫu hạm của Ấn Độ. Ông cũng tiết lộ một thỏa thuận quân nhu tiếp liệu mới và nói là hai quốc gia sẽ hợp tác với nhau trong kỹ thuật quân sự. Kết hợp với nhau, những biện pháp được ông Carter loan báo hé mở tiềm năng một sự tái xuất hiện hùng hậu về quân sự ở khu vực mà Trung Cộng tin là lãnh thổ của họ và họ sẽ vượt Hoa Kỳ về ảnh hưởng. Chính Phủ Obama có vẻ tin là Trung Cộng sẽ thụt lùi thay vì tiếp tục có những hành động khiến cho những quốc gia láng giềng của họ đang ngày càng mong muốn sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ. Hơn một lần trong tuần lễ ở Á Châu đó, ông Carter đã dẫn những hành động của Trung Cộng như là động lực đằng sau những căng thẳng trong vùng và, ngầm ý, lý do tại sao các quốc gia láng giềng ngày càng thân cận với Ngũ Giác Đài. Ngồi với báo chí trong mẫu hạm, ông Carter nói là Trung Cộng không nên coi sự hiện diện của hàng không mẫu hạm này là một sự khiêu khích. Ông nói: “Chúng tôi đã có mặt ở đây từ thập niên này sang thập niên khác. Lý do duy nhất có câu hỏi chỉ vì những gì xảy ra trong năm vừa qua, và đó là một câu hỏi về cách hành xử của Trung Quốc. Chuyện không có gì mới lạ là sự hiện diện của một hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ trong vùng. Điều mới là khuôn khổ và căng thẳng có sẵn, mà chúng tôi muốn giảm thiểu.” Trung Cộng đã theo dõi kỹ chuyến công du của ông Carter, vốn đáng lẽ bao gồm cả một cuộc viếng thăm Bắc Kinh nhưng đã bị hủy bỏ trong lịch trình cách đây vài tuần lễ. Trong một thông cáo vào đêm khuya hôm Thứ Năm, 14 tháng 4, Bộ Quốc Phòng Trung Cộng cáo buộc Hoa Kỳ đã trở lại “suy nghĩ kiểu Chiến Tranh Lạnh” và nói là quân đội Trung Quốc sẽ “theo dõi kỹ lưỡng tình hình và cương quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi biển của Trung Quốc.” Chưa hết, hôm Thứ Sáu, 15 tháng 4, Trung Cộng đột nhiên tiết lộ là sĩ quan cao cấp nhất của quân đội, Phó Chủ Tịch Quân Ủy Trung Ương Thượng Tướng Phạm Trường Long đã viếng thăm quần đảo Trường Sa, vốn có vẻ như là để đưa ra chỉ dấu về quyết tâm của Bắc Kinh ở Biển Đông, mà họ đã tuyên bố hầu hết là lãnh thổ của họ, bất chấp mọi công ước và thông lệ về biển cả. Hôm Thứ Hai, 18 tháng 4 vừa qua, Hải Quân Hoa Kỳ loan báo là sẽ theo dõi hoạt động của Trung Cộng ở Biển Đông bằng những tàu ngầm điều khiển từ xa, những drone chạy dưới biển. Trong mấy tháng nay Ngũ Giác Đài đã công khai hóa một chương trình, có thời là tối mật, về phát triển những tàu ngầm tự điều khiển hay điều khiển từ xa, mà nay đã trở thành một kế hoạch của Hoa kỳ để ngăn ngừa Trung Cộng tìm cách chế ngự vùng theo tờ Financial Times. Tờ Financial Times nói là chứng kiến cảnh Trung Cộng đang xây dựng sự hiện diện ở Biển Đông, từng hòn đảo nhân tạo một, quân đội Hoa Kỳ đang trông cậy vào kỹ thuật để giúp duy trì thế thượng phong. Ông Carter đã đặc biệt nhắc đến các tàu ngầm tự điều khiển trong một bài diễn văn về chiến thuật ở Á Châu và ngầm ý nói đến tiềm năng nó có thể được sử dụng ở Biển Đông, nơi có những vùng biển khá cạn. Trên Hàng không Mẫu hạm Stennis, ông Carter cũng đã nói đến đầu tư của Ngũ Giác đài vào tàu ngầm “kể cả những tàu ngầm tự động hay điều khiển từ xa đủ kích thước và với trọng tải đủ loại, và quan trọng hơn, có thể hoạt động trong vùng biển cạn nơi mà những tàu ngầm có người điều khiển không vào được.” Qua việc bật mí những kỹ thuật mới như tàu ngầm tự động, một số có thể bắt đầu đưa vào hoạt động vào cuối thập niên này, Ngũ giác đài muốn ngăn ngừa những đối thủ tiềm tàng như Trung Cộng hay Nga bằng cách cho họ thấy sự thắng thế về quân sự của Hoa Kỳ. Những tàu điều khiển từ xa hay tự động này là sự tham gia của quân đội Hoa Kỳ vào ngành trí tuệ nhân tạo và robot để có thể làm sao giữ ưu thế. Ông Shawn Brimley, một cựu viên chức của cả Tòa Bạch Ốc lẫn Ngũ Giác Đài, nay ở Trung Tâm Nghiên Cứu New American Security giải thích: “Ý tưởng là nếu chúng ta có khi nào đó phải đụng độ ở Biển Đông, thì người Trung Quốc sẽ không biết chắc loại khả năng mà Hoa Kỳ có thể có. Việc này có thể có một ảnh hưởng ngăn ngừa nào đó cho tiềm năng có những hành động hung hăng.” Với cạnh tranh quân sự tăng cường ở vùng Tây Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng, tàu ngầm nay trở thành một yếu tố quan yếu. Việc Trung Cộng đã đầu tư mạnh vào hỏa tiễn đã khiến cho các lực lượng trên bộ của Hoa Kỳ có thể bị lâm nguy cũng như là một số chiến hạm nổi. Kết quả của việc này là Hoa Kỳ đã đầu tư 8 tỷ đô la năm tới vào tàu ngầm để “bảo đảm là những tàu của chúng ta đáng sợ nhất, phát triển nhất trong lực lượng dưới biển và chống tàu ngầm.” Tất cả những tiết lộ của Bộ Trưởng Carter ở Á Châu cho thấy tầm mức của hoạt động của Hoa Kỳ ở Đông Á. Nhưng Chính Phủ Obama từ chối diễn tả thái độ với Trung Cộng này là sự hồi sinh của chính sách “bao vây,” chiến lược thời Chiến Tranh Lạnh nhằm ngăn ngừa sự lan tràn của chủ nghĩa Cộng Sản. Ngược lại, ông Carter nói những sáng kiến quân sự mới trong vùng hoàn toàn trong khuôn khổ chính sách từ trước đến nay của Hoa Kỳ là hoạt động mật thiết với những quốc gia chia sẻ quyền lợi chung. Ông Carter tuyên bố: “Chính sách của Hoa Kỳ tiếp tục là một chính sách chuộng nguyên tắc giải quyết hòa bình tranh chấp, giải quyết hợp pháp những vấn đề như tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, hay bất cứ nơi nào khác, tự do hải hành và tự do mậu dịch. Nay những quốc gia nào không chấp nhận những điều này, không đồng ý theo những điều này, sẽ tự cô lập chính họ. Đó là tự cô lập chứ không phải bị chúng tôi cô lập.”

      Lê Phan

      (Diễn Đàn Thế kỷ)
    • Truyền thông Việt Nam gián tiếp công khai về ‘công đoàn độc lập’
      Trùng thời điểm Thứ trưởng Bộ ngoại giao Hoa Kỳ Anthony Blinken đến Hà Nội để hoàn tất những nội dung cần thiết cho chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Obama, dự kiến vào cuối tháng 5/2016, vào ngày 19/4/2016, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng đưa một bản thông cáo chung tại Diễn đàn Quan hệ lao động Việt Nam lần thứ 1, đồng tổ chức với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).                                     Diễn đàn Quan hệ lao động Việt Nam lần thứ 1. (Hình: VOV)   Bản thông cáo cho biết: “Chúng tôi cam kết hợp tác với các đối tác trong việc tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện các nguyên tắc trong Tuyên bố 1998 của ILO về Các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lĩnh vực lao động, bao gồm nỗ lực nghiên cứu khả năng phê chuẩn các công ước cơ bản còn lại của ILO”.   Truyền thông đảng cũng “vào cuộc”. Đài tiếng nói Việt Nam (VOV) đã đưa bản tin về sự kiện trên, đồng thời dẫn lời của Tiến sĩ Chang-Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam cho biết: “Việt Nam sẽ phải thực hiện một cuộc cải cách quan trọng, đặc biệt là hệ thống quan hệ lao động, nếu Việt Nam muốn đủ điều kiện để hưởng lợi về kinh tế từ TPP”.   Bản tin của VOV nói rằng trọng tâm của yêu cầu của TPP là Việt Nam cần tôn trọng nguyên tắc tự do liên kết và đây được coi là phần khó nhất trong chương lao động của TPP. Hiện nay, mọi tổ chức công đoàn tại Việt Nam đều phải thuộc Tổng LĐLĐVN.   Khi gia nhập TPP, người lao động sẽ có quyền tự do thành lập hoặc gia nhập tổ chức mà họ lựa chọn ở cấp doanh nghiệp. Các tổ chức này có thể có hoặc không thuộc Tổng LĐLĐVN.   Bản tin VOV còn cho biết kể từ khi Bộ Luật Lao động năm 1994 được thông qua, Việt Nam đã ghi nhận hơn 5,500 cuộc đình công. Tất cả đều là đình công tự phát, nghĩa là không có cuộc đình công nào do công đoàn nhà nước tổ chức.   Theo cách đưa tin của VOV, có thể ghi nhận rằng sau 8 tháng tính từ thời điểm đoàn đàm phán Việt Nam hoàn thành đàm phán về TPP, đến nay các cơ quan chính quyền Việt Nam mới dần công khai quyền được tự do thành lập “công đoàn cơ sở” của người lao động, mặc dù vẫn hoàn toàn không đề cập gì đến khái niệm “công đoàn độc lập” mà bản văn TPP đã ghi rõ.   Cho tới nay, những tin tức về nội hàm của “công đoàn độc lập” như một thành phần không thể thiếu trong TPP vẫn chỉ được đăng tải bởi các hãng báo đài quốc tế và mạng xã hội.   Cố tình không công bố thông tin về “công đoàn độc lập” không chỉ là một thủ thuật xấu chơi của giới lãnh đạo Việt Nam, mà hành vi này còn vi phạm chính cam kết về việc phải công khai toàn bộ thông tin mà đoàn đàm phán TPP của Việt Nam đã hứa hẹn và ký tá.   Từ sau tết nguyên đán 2016 đến nay, hàng loạt cuộc đình công từ vài trăm đến hàng ngàn công nhân đã xảy ra tại nhiều tỉnh ở Việt Nam. Nhưng rất đáng chú ý, vài cuộc đình công đã đòi hỏi không chỉ việc cải thiện thu nhập và điều kiện làm việc, mà còn đòi phải có quyền được tự do thành lập công đoàn riêng của công nhân.   Lê Dung     (SBTN)
    • Biển Đông đang rất nóng
      Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nghi thức chào xã giao Cảnh sát biển Trung Quốc. Nguồn: CSB VN Vụ việc Formusa Hà Tĩnh đang sôi sùng sục ở các trang báo đã làm cho người ta tạm gác qua chuyện Biển Đông – vốn đang nóng hơn rất nhiều…   KHÔNG HỀ CÓ ĐỒNG THUẬN NÀO CẢ   Hôm Chủ Nhật, 24-4, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng nước này đã đạt được thỏa thuận 4 điểm về Biển Đông theo lập trường của Bắc Kinh với Brunei, Campuchia và Lào sau chuyến công du của ông Ngoại trưởng Vương Nghị.   The Phnom Penh Post ngày 26-4 đưa tin: người phát ngôn Chính phủ Campuchia Phay Siphan khẳng định, chẳng có đồng thuận nào mới đạt được trong cuộc họp vào cuối tuần qua, khi ông Nghị ghé Phnom Penh.   “Không có thỏa thuận hoặc thảo luận nào, đó chỉ đơn thuần là chuyến thăm của một Ngoại trưởng Trung Quốc”, ông Phay Siphan nói với báo giới.   Trước đó, The Fiji Times ngày 15-4 đưa tin, Chính phủ Fiji ngày 14-4 tuyên bố, nước này không ủng hộ lập trường của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Tuyên bố được đưa ra sau khi Trung Quốc công bố thông cáo báo chí sau cuộc họp giữa Ngoại trưởng Fiji Ratu Inoke Kubuabola và người đồng nhiệm Vương Nghị ở Bắc Kinh, rằng:   “Hai bên (Trung Quốc và Fiji) kêu gọi các bên liên quan trực tiếp cam kết giải quyết hòa bình các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, hàng hải thông qua tham vấn thân thiện và đàm phán song phương phù hợp theo tinh thần Tuyên bố chung về ứng xử trên Biển Đông.   Cơ quan tư pháp và trọng tài quốc tế nên tôn trọng đầy đủ việc Trung Quốc bảo lưu ngoại lệ tùy chọn theo Điều 298 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).   Hai bên nhấn mạnh quyền của các nước có chủ quyền và các quốc gia thành viên UNCLOS để lựa chọn một cách độc lập các phương pháp để giải quyết tranh chấp phải được tôn trọng, và phải có sự đồng ý trước của các bên tranh chấp trước khi tiến hành giải quyết thông qua một bên thứ 3 bất kỳ”.   VIỆT – TRUNG LẠI TUẦN TRA CHUNG TRÊN VỊNH BẮC BỘ   Tuần qua, thông tin ít được phổ biến là Việt Nam và Trung Quốc đã bắt đầu cuộc tuần tra ngư nghiệp chung lần thứ 11 tại Vịnh Bắc Bộ.   Hai tàu cảnh sát biển từ Việt Nam và hai tàu Trung Quốc cùng giám sát các tàu cá và thỉnh thoảng tiến hành các cuộc kiểm tra trên ngư trường chung tại đây trong vòng 5 ngày kết thúc vào hôm thứ bảy vừa qua.   Cuộc tuần tra năm nay được gia hạn từ thông lệ 3 ngày thành 5 ngày và các tuyến tuần tra 1 chiều trước kia từ bờ biển này tới bờ biển kia nay được thay đổi thành hai chiều đi-về.   Hài hước là kết thúc cuộc tuần tra đã không ghi nhận được trường hợp nào vi phạm về quyền đánh bắt thủy hải sản. Trong lúc đó, theo báo cáo của lực lượng kiểm ngư Việt Nam, các ngư dân ở miền Trung cho hay suốt mấy năm qua đã phải khốn khó trong lẫn tránh nhóm các tàu sắt có treo cờ Trung Quốc gọi là Dân Quân Biển (Tanmen Maritime Militia) ngụy trang vào trong hạm đội tàu cá của Trung Quốc đang tràn ngập vùng Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam.   Đầu tháng Tư, Cảnh sát biển Việt Nam đã bắt giữ một tàu dầu Trung Quốc tiếp tế nhiên liệu cho những tàu cá hoạt động xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Tuy nhiên những thông tin này lại không được phổ biến trên báo chí.   BIỂN VIỆT NAM ĐANG BỊ TRUNG QUỐC CÀN QUÉT   Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết “nhiều doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu hải sản của Việt Nam đang phải tạm ngưng sản xuất mặt hàng này hoặc hoạt động cầm chừng do không đủ nguyên liệu sản xuất”.   Theo bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó Chủ tịch VASEP, đã có 147 doanh nghiệp ngưng chế biến và xuất khẩu hải sản để chuyển sang sản xuất các mặt hàng khác, “nguyên nhân do các thương nhân Trung Quốc sang tận nơi mua hải sản mà ngư dân đánh bắt về”.   VASEP còn cho biết có tình trạng thương nhân Trung Quốc “tranh giành, đón mua” tại các cảng cá hoặc thậm chí ngay tận ngoài biển. Các công ty Việt Nam thiếu hàng xuất cảng, đẩy giá mua lên cao mà vẫn không cạnh tranh nổi với độ vung tiền của các doanh nhân Trung Quốc. Miền Trung bị ảnh hưởng bởi “cơn dịch vét hàng” nặng nhất.   “KHÔNG THỂ GIẢI QUYẾT SONG PHƯƠNG VẤN ĐỀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA”   Ngày 14-4, trong cuộc họp báo thường kỳ tại Hà Nội, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình nêu rõ trong các tranh chấp chủ quyền đảo trên Biển Đông, vấn đề liên quan đến hai nước thì giải quyết song phương, nhiều nước thì phải giải quyết đa phương.   Cũng trong thời gian này, cử tri 15 tỉnh: Phú Yên, Long An, Ninh Bình, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bình Thuận, An Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu, Bình Dương, Hà Nam, Tiền Giang, Cà Mau, Long An, Hà Nội đã có yêu cầu sớm kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế về vấn đề biển Đông.   Nguyên văn kiến nghị được Ban Dân nguyện của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tập hợp như sau: “Cử tri tiếp tục bày tỏ thái độ bức xúc đối với những vi phạm của Trung Quốc ở biển Đông, đặc biệt là hành động xây dựng đảo nhân tạo tại một số điểm thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, ngang nhiên đánh bắt cá trên vùng biển Việt Nam, tấn công các tàu của ngư dân Việt Nam.   Cử tri đề nghị có các giải pháp đấu tranh khả thi, quyết liệt hơn, rõ ràng hơn để giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè, dự luận quốc tế trong việc đối phó với các hành động nêu trên của Trung Quốc; sớm hoàn thiện các thủ tục pháp lý khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế; thận trọng hơn trong các chính sách đối ngoại, cân nhắc khi hợp tác, ứng xử đối với một số nước bạn, đặc biệt là Trung Quốc; hạn chế các chính sách thỏa hiệp để đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc; đồng thời thông tin kịp thời, đầy đủ tình hình biển Đông và đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về chủ quyền biển đảo…, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần đoàn kết, quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc”.   Tuy nhiên có điều lạ là những thông tin nói trên không thu hút sự quan tâm, hưởng ứng của các tổ chức hội, đoàn xã hội dân sự. Đã không có bất kỳ cuộc tuần hành hay biểu tình nào diễn ra để phản đối Trung Quốc xâm lược biển đảo Việt Nam; thậm chí cũng chưa thấy bùng lên làn sóng yêu cầu nhanh chóng khởi kiện Trung Quốc của người dân Việt Nam.   Biển Đông vẫn đang nóng và…   Minh Châu   (Blog Sống – Chia sẻ) 
    • Đô La Vàng Vọt?
      Từ 30 Tháng Tư Mà Nhìn Lại, Rồi Nhìn Đi….     Lãi suất âm - đường vào âm phủ? Ngày xưa, chúng ta có thể ở giữa mắt bão mà không biết vì kiến thức của giới hướng dẫn dư luận bị giới hạn – mà có lẽ chính họ cũng không biết. Ngày nay sự thể đã khác, và đây là một sự tiến bộ, chúng ta cảm nhận được những giông bão vần vũ chung quanh và dư luận được đây đó giải thích về các nguyên nhân của vấn đề. Tại Hoa Kỳ, cuộc tranh cử tổng thống năm nay là nơi có nhiều giải thích nhất, với các ứng cử viên đang đua nhau đề nghị giải pháp…   Vì vậy, chúng ta cố “nhìn từ bên ngoài” để phần nào hiểu ra những xoay vần trong mắt bão là Hoa Kỳ. Bài này sẽ khởi đi từ giác độ kinh tế, trong một viễn ảnh trường kỳ là 70 năm, may ra thỉ hiểu được kết quả của cuộc tranh cử và những gì sẽ xảy ra sau đó…. Nhân tiện thì cũng liếc về Chuyện Tháng Tư của mình.   *   Mọi sự khởi đầu vào cuối Thế chiến II, khi Hoa Kỳ là siêu cường độc bá vì ít bị chiến tranh tàn phá và còn tiềm lực kinh tế mạnh nhất. Mục tiêu khi ấy của nước Mỹ là xây dựng lại một trật tự khác với các đồng minh có thể là đối thủ cũ như Đức và Nhật và với các đồng minh cố hữu là các nước Âu Châu đã phần nào công nghiệp hóa và phải tái thiết sau chiến tranh.   Trong bối cảnh ấy, Hoa Kỳ (với Anh quốc như đồng minh chiến lược) thành lập hệ thống tài chánh quốc tế gọi là Bretton Woods – địa danh của một hội nghị quốc tế năm 1944 tại tiểu bang New Hampshire - theo nguyên tắc là từ nay người dân sẽ không thể đổi đồng bạc của họ ra vàng vì đấy là chức năng của các chính quyền và việc giao hoán (đổi chác) ấy tiến hành qua đồng tiền của Hoa Kỳ, là đồng Mỹ kim. Vì vậy, các nước cần tái thiết và nợ ngập đầu vì chiến tranh như Âu Châu hay Nhật Bản phải ráo riết thủ đắc và tồn trữ đồng ngoại tệ quý báu này.   Kiến trúc tài chánh ấy dựa trên niềm tin rằng Chính quyền Mỹ tôn trọng cam kết là sẽ đổi lại Mỹ kim ra vàng theo tỷ giá 35 đô la được một “troy ounce” (khoảng 31 gram). Muốn vậy, nền kinh tế của nhà cái, hay nhà tài trợ, hay quốc gia viện trợ là Hoa Kỳ, phải có năng suất cao. Niềm tin đó thật ra là một trách nhiệm - sẽ có ngày nói sau - mà cũng là lực đẩy cho kinh tế Hoa Kỳ phát triển và bành trướng trong thời Chiến tranh lạnh.   Cứng đầu nhất và “chống Mỹ” nhất vào giai đoạn ấy là nước Pháp của lãnh tụ Charles de Gaulle, với vai trò của kinh tế gia Jacques Rueff, đã trước tiên nói tới “lợi thế quá đáng” của Hoa Kỳ và “hỏi giấy” niềm xác tín ấy, bằng cách xả bớt đồng Mỹ kim trong dự trữ ngoại tệ của Pháp, để đòi lấy vàng.   Chìm đắm trong khói lửa chiến tranh và nhức tim với cuộc “Hòa đàm” tại Paris - trời ơi, vì sao Lyndon Johnson lại chọn nơi đó! - chúng ta không để ý tới biến động có tính chất chiến lược này vì nhiều quốc gia khác cũng đòi như Pháp. Và Chính quyền Richard Nixon không thể tiếp tục cung cấp cả áo cơm lẫn súng đạn mà Chính quyền Johnson hứa hẹn trước đó nên buông tay thả nổi đồng bạc từ ngày 15 Tháng Tám 1971. Hoa Kỳ không thể tôn trọng cam kết trong hệ thống Bretton Woods. Nôm na là trên sòng bạc quốc tế, nhà cái quịt nợ khi các nhà con nộp tiền nhựa để đòi lấy vàng.   Hệ thống Bretton Woods sụp đổ mà tại Sàigòn chúng ta ít biết. Và từ đấy, vàng tăng giá lên trời trong các biến động tài chánh lan rộng kể từ năm 1972 trở đi.   Nhưng ngoài đồng Mỹ kim bị thiên hạ hỏi giấy và hỏi tuổi như hỏi tuổi vàng, trên canh bạc toàn cầu, thế giới lại có thêm một loại tài sản khác để đổi chác. Đấy là dầu thô, lần đầu tiên được các nước sản xuất và xuất cảng sử dụng như một võ khí trong một trận chiến không tiếng nổ. Hiệp định Paris dần dần thành hình vào khung cảnh ấy mà chúng ta chưa biết và nhiều người còn tin rằng Mỹ không bỏ Việt Nam.   Nhưng siêu cường Hoa Kỳ thiên biến vạn hóa đã biết xoay. Võ khí dầu thô được thanh toán hay đổi chác bằng gì? Bằng đồng Mỹ kim. Khi ấy, “lợi thế quá đáng” của nước Mỹ đã tái sinh với “Petrodollars”. Gọi là gì? Là tiền dầu?   Lãnh đạo khối Á Rập Hồi giáo có dầu là Saudi Arabia đã bán dầu thu lại Mỹ kim dưới dạng Công phố phiếu Mỹ để tài trợ các nước bán dầu. Đổi lại, Hoa Kỳ viện trợ cho các nước Á Rập thân hữu trong vùng Vịnh Á Rập đủ loại chiến cụ và Âu Châu khi ấy chấp thuận sự đổi chác này vì mối nguy quá lớn của Liên bang Xô viết: chủ nợ là Hoa Kỳ cũng là tay trưởng tràng bảo vệ Âu Châu.   Vả lại, nếu chỉ dùng vàng làm vật giao hoán thì đào đâu ra vàng cho kịp nhu cầu phát triển kinh tế?   Những câu hỏi trừu tượng ấy vượt ra khỏi sự quan tâm của chúng ta khi Hiệp định Paris, ký kết đầu năm 1973, hoàn tất nhiệm vụ của nó, là cột tay miền Nam và trao trọn gói cho miền Bắc vào Tháng Tư 1975. Bây giờ thì mình tìm hiểu tiếp về Hoa Kỳ, vẫn nhìn từ bên ngoài (!).   *   Không bị kẹt vì lượng vàng có hạn, lại được lợi nhờ Petrodollars, khi Liên Xô bắt đầu suy bại từ những năm 1982 trở về sau, Hoa Kỳ vẫn thừa thắng xông lên với lực đẩy là tờ giấy nợ.   Theo định nghĩa, đồng Mỹ kim là tờ giấy nợ do Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ phát hành. Thủ đô của nước Mỹ là viện phát hành toàn cầu, với đồng Mỹ kim vẫn giữ vai trò dự trữ ngoại tệ của các nước. Hoa Kỳ in bạc mua về đủ loại hàng hóa và dịch vụ của thiên hạ với giá rẻ và người dân nâng cao mức sống nhờ quy cách ấy. Khi Liên Xô tan rã, có học giả Mỹ ngợi ca kinh tế thị trường và dân chủ chính trị đã đại thắng các chủ nghĩa phát xít và cộng sản. Trong niềm lạc quan ấy, các nước vui vẻ nhận giấy nợ của Mỹ, chất đống, để phần nào thực hiện giấc mơ thịnh vượng của dân Mỹ. Việt Nam Cộng sản khi ấy cũng đã tất yếu bị khủng hoảng và tỉnh giấc mê sảng mà tiến hành đổi mới, rồi xài tiền Mỹ đế để xây dựng xã hội chủ nghĩa.   Khi đã giàu rồi thì mọi người đều sẽ thanh toán khoản nợ này. Rồi thế giới sẽ quân bình trở lại.   Những người tò mò, khi đó còn ít lắm vì quy luật “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”, thì có thể xét lại xem tại sao nước Mỹ giàu mạnh như vậy? Mạnh đến độ đánh bại Liên Xô và sau chục năm giàu có vì được hưởng “cổ tức hòa bình” nhờ giảm chi ngân sách quốc phòng khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Hoa Kỳ lại có thể tăng chi quốc phòng sau vụ khủng bố 9-11 vào năm 2001 cho tới 2011 mới giảm. Nếu tò mò tìm hiểu thì người ta có thể thấy ra mặt trái của sức mạnh đó, là đi vay để mua nhà và mua súng.   Kiến trúc tài chánh ấy có những bất ổn ghê người và tích lũy trong cả chục năm trước khi sụp đổ vào năm 2008 với nạn Tổng suy trầm 2008-2009. Đấy là điểm lật, tương tự như 1971 hay 1989.   Ngày nay, tám năm sau, nước Mỹ chưa ra khỏi chu kỳ thanh toán ấy mà lại sáng tạo nữa. Sau khi hai Chính quyền George W. Bush và Barack Obama ráo riết tăng chi – ngân sách bị bội chi thì lại đi vay - để kích thích kinh tế theo lối cổ điển mà chẳng công hiệu, Ngân hàng Trung ương phải nhập cuộc. Giải pháp cổ điển là hạ lãi suất tới sàn cũng không công hiệu thì định chế này bèn áp dụng giải pháp cực bất thường là tăng mức lưu hoạt có định lượng (quantitative easing hay QE). Nôm na vẫn là bán giấy nợ lấy tiền bơm vào kinh tế. Vậy mà kinh tế Hoa Kỳ và cả thế giới vẫn chưa hồi phục và cuối năm 2013 còn bị suy trầm nhẹ khi Ngân hàng Trung ương Mỹ thông báo sẽ chấm dứt biện pháp QE để trở về trạng thái bình thường.   Từ đó, thế giới đã qua nhiều cuộc khủng hoảng cục bộ, như trong khối Euro tại Âu Châu hay nạn dầu thô tuột giá trong các khu vực bán dầu, hay sự phân hóa của hệ thống tài chánh Âu Châu khi nhiều nước hết giao dịch bằng đồng Euro và các Ngân hàng Trung ương Âu Châu rồi Nhật Bản đều đi quá đoạn đường QE mà hạ lãi suất xuống số âm. Sau khi cố tăng lãi suất được 25 điểm căn bản (0,25%) vào cuối năm ngoái, Ngân hàng Trung ương Mỹ đã tạm ngưng việc tống ga nhấn tới mà còn cho biết giải pháp hạ lãi suất dưới số không cũng là một kịch bản….   Chúng ta đang ở giữa mắt báo vì sau những lạc quan trước vụ Tổng suy trầm 2008, Hoa Kỳ dẫn đầu các nước vào một canh bạc khác với niềm lạc quan mới là các giải pháp bất thường sẽ công hiệu. Từ năm 2009 đến nay, chưa ai thấy ra sự công hiệu ấy, trong khi thế giới lại chất lên một núi nợ sẽ đổ. Trung Cộng và Việt Nam cũng chẳng ra khỏi tình trạng đó. Trong cảnh ngộ bất trắc này, đồng Mỹ kim vẫn giữ vai trò then chốt, tăng giá mạnh từ năm 2014 và gieo nhiều chấn động theo từng nhịp độ thăng trầm.   Hình như là chúng ta đã từ hệ thống Bretton Woods trải qua bốn đời Bretton Woods khác và mỗi kiến trúc mới lại tích lũy thêm một mầm bất ổn trên một nền móng lung lay. Nếu kiến trúc này sụp đổ thì Hoa Kỳ có còn khả năng sáng tạo như năm lần đã qua hay chăng? Nhìn từ bên ngoài, người viết này e ngại vì thấy các ứng cử viên trong cuộc tranh cử tổng thống năm nay mới chỉ nói chuyện ngoài da – để bán cao đơn hoàn tán.    Nguyễn-Xuân Nghĩa    (Người Việt)
    • Lê Phú Khải - Thư ngỏ gửi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc
      Lê Phú Khải - Thư ngỏ gửi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc   Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc Thưa Tân Thủ Tướng,   Vụ cá chết đồng loạt ở ven các tỉnh Miền Trung đang chấn động dư luận cả nước. Từ 4000 năm dựng nước đến nay, sử sách nước ta chưa hề có sự cố này. Tôi xem truyền hình, thấy một vị quan chức lớn tiếng bên vực cho các đơn vị công nghiệp ở Vũng Áng là các cống nước thải ra biển có trong thiết kế và đã được xét duyệt. Báo chí đã đưa tin thì phải đưa lại! Thật là lố bịch đến bất lương khi vị quan chức này lớn tiếng bên vực cho các cống nước thải đã có trong thiết kế và đã được thi công!   Vấn đề ở đây là các công trình xử lý nước thải ra biển đó có được vận hành hay không? Hay chỉ là thiết kế và xây dựng để làm cảnh, để trình diễn mà thôi!   Tôi là một nhà báo, xin cung cấp để Thủ Tướng biết sự kiện xương máu bột ngọt Vê – Đan đã giết sông Thị Vải bằng nước thải của họ.   Cách đây gần 10 năm, tôi được Viện trưởng viện khoa học – kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam là Tiến Sỹ Phạm Văn Biên mời ăn tiệc. Trong bữa tiệc đó có Tổng Giám Đốc bột ngọt Vê – Đan dự. Nguyên do quan hệ là viện khoa học – kỹ thuật Miền Nam giúp Nông Dân Sông Bé kỹ thuật trồng khoai mỳ cung cấp cho Vê – Đan làm bột ngọt. Sau bữa tiệc đó ít lâu, tôi được Tổng Giám Đốc Vê – Đan mời đi tham quan cơ sở của Vê – Đan. Thân chinh Giám Đốc lái xe đưa tôi đi trong khuôn viên rất rộng của nhà máy để xem hệ thống xử lý nước thải rất hiện đại của Vê – Đan. Thậm chí còn xem cả ao nước thải sau xử lý nuôi được cá!   Sau buổi đi đó, tôi không viết một chữ nào về hệ thống xử lý nước thải này, chỉ chụp rất nhiều ảnh… Để hôm nay gửi kèm thư này đến Thủ Tướng.   Tôi biết thừa, họ chỉ xây hệ thống xử lý nước thải để làm cảnh, để trình diễn khi có nhà báo, có cơ quan chức năng đến “kiểm tra”. Khi khách về, họ không bao giờ vận hành cả. Sau đó, thì vỡ lỡ vụ Vê – Đan giết sông Thị Vải bằng nước thải công nghiệp tai tiếng cả nước, đau đớn cả nước.   Thưa Thủ Tướng, các công trình xử lý nước thải, bảo vệ môi trường ở Vũng Áng hôm nay có thể cũng rứa! Chức năng của cơ quan có trách nhiệm là kiểm tra. Nếu vì yếu tố nước ngoài mà nhà máy của họ xây dựng trên đất nước ta, chính quyền của ta lại không được phép kiểm tra thì coi như ta đã mất nước rồi!   Tôi trân trọng gửi đến Thủ Tướng những bức hình hệ thống xử lý nước thải ở Vê – Đan rất hiện đại nhưng không bao giờ vận hành, nên con sông có cái tên thơ mộng là Thị Vải mới bị giết chết.   Nhân Dân cả nước mong muốn Thủ Tướng ra lệnh cho các cơ quan có chức năng bảo vệ môi trường thường xuyên kiểm tra các hệ thống bảo vệ môi trường có hoạt động và môi trường có đảm bảo không…..chứ không phải lớn tiếng bên vực là nó đã được thiết kế và xây dựng để lừa xã hội.   Kính chúc Thủ Tướng sức khỏe.
      Lê Phú Khải

      (Ba Sàm)   Hai Hoang Van at 27.4.16